NHÓM VÀ CỦA GIÁO VIÊN Nhóm được đánh giá:Nhóm
B. Cao su là vật liệu polime không có tính đàn hồi
II. PHẦN TỰ LUẬN (4 điểm)
Để khảo sát động học phân hủy rác thải nhựa, nhóm nghiêm cứu Đại học Văn Lang đã tiến hành thực nghiệm và đưa ra phương trình tính thời gian phân hủy các loại nhựa thông thường đang được sử dụng (PE, PVC, PS…) là
Một chai nước được làm từ nhựa polistiren (PS) có khối lượng ban đầu m1 = 1g, sau thời gian t (ngày) mẫu nhựa này phân hủy và còn lại m2 = 0,1g.
a. Tính giá trị của t? Nhận xét thời gian phân hủy của các loại nhựa thông thường đang được sử dụng hiện nay?
b. Viết phương trình phản ứng trùng hợp PS từ monome tương ứng?
c. Vận dụng kiến thức thực tiễn đã trải nghiệm, em hãy đưa ra biện pháp xử lí rác thải nhựa, khó phân hủy này.
d. Qua đề tài trải nghiệm “Vật liệu polime ảnh hưởng gì đến cuộc sống quanh ta” em hãy đưa ra một số biện pháp tái chế, phân loại rác thải để góp phần xây dựng một hành tinh xanh, sạch, đẹp.
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA GIÁO VIÊN
Các nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ, sưu tầm được nhiều thông tin quan trọng, làm ra được nhiều sản phẩm có tính thẩm mĩ. Đặc biệt là những bộ trang phục của nhóm 3 làm từ quần áo cũ và sử dụng túi nilon trang trí họa tiết. Nhóm 2 đưa 2 thông tin mang tính thời sự về quá trình tìm ra vật liệu thay thế túi nilon và nhựa ở Việt Nam có tính giáo dục rất tốt. Nhóm 4 đưa ra những thông tin về cao su, ứng dụng của cao su và làm ra được sản phẩm từ cao su đã qua sử dụng cùng với nhà trường tham gia dự án sử dụng lốp xe cao su trang trí trường học rất giá trị và ấn tượng. Các nhóm đã tìm hiểu được đặc điểm các ngành nghề liên quan, cơ hội việc làm cũng như các trường đại học đào tạo,…
Đại dương bị ô nhiễm rác thải nhựa đang là vấn đề nan giải cần phải có giải pháp khắc phục kịp thời. Chính đặc tính bền, khó phân hủy của vật liệu polime làm cho rác thải tồn đọng trong lòng đại dương lâu ngày, gây ra hiện tượng cá, tôm, cua biển nhiễm vi nhựa; đồng nghĩa với việc gây ra các bệnh về ung thư dạ dày, đường ruột cho con người.
m1 – m2
m1
.100 = 0,001.t
3. Kết quả thực nghiệm
* Ở lớp thực nghiệm:
Các em học tập và trao đổi sôi nổi, giờ học thoải mái, hứng khởi. Hầu hết các em đều hoạt động theo nhóm rất tích cực và hứng thú khi khám phá và lĩnh hội những kiến thức mới. Các nội dung hóa học được liên hệ với thực tiễn nên các em rất hào hứng tiếp nhận, giờ học không còn là giờ học khô khan nhàm chán nữa mà trở nên thú vị hơn bởi qua các giờ học các em không những tiếp nhận được kiến thức hóa học mà còn được hiểu biết thêm về các môn học khác cũng như những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
Nhiều em học sinh ở lớp thực nghiệm đã tìm ra nhiều tài liệu, nội dung phong phú và gắn liền với đời sống hàng ngày. Một số em học sinh có kĩ năng thông tin và xử lí tốt các tình huống đặt ra. Điều đó chứng tỏ năng lực tìm tòi, khám phá, hiểu biết cũng như khả năng tiếp nhận tri thức của các em rất tốt.
Qua các tiết dạy thấy khả năng vận dụng các vấn đề thực tiễn của các em ở lớp thực nghiệm tiến bộ rõ rệt, khả năng phối hợp của các em trong các hoạt động nhóm cũng hiệu quả hơn.
* Ở lớp đối chứng:
Các em cũng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập nhưng không mấy hào hứng nên khả năng tiếp thu và ghi nhớ chưa được tốt.
Các hoạt động được yêu cầu làm theo nhóm còn mang tính đối phó, chưa thật sự hiệu quả.
Hầu hết các em còn có tâm lí nặng nề trong việc tiếp thu kiên thức mới và việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề.
Kết quả làm bài kiểm tra của học sinh các lớp thực nghiệm và học sinh các lớp đối chứng được phân tích theo điểm số như sau:
Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng
Khối 12 12A1: 32
12A2: 32 12A6: 33
12A3: 35 12A4: 31 12A5: 32 Số học sinh đạt điểm 9-10 10/97=10,3 % 1/98=1 % Số học sinh đạt điểm 7-8,75 52/97=53,6 % 20/98=20,4%
Số học sinh đạt điểm 5-6,75 30/97= 30,9 % 57/98=58,2%
Số học sinh dưới 5 5/97= 5,2 % 20/98=20,4%
Kết quả phiếu điều tra HS sau buổi học tại lớp 12A2 với việc dạy học stem và định hướng nghề nghiệp qua dự án polime
Thái độ Không thích Bình thường Thích Rất thích
Số HS 0 2 10 20
Kết quả qua phiếu thăm dò được thống kê trong biểu đồ sau:
Biểu đồ 1: Lấy ý kiến thái độ của HS đối với việc dạy học stem và định hướng nghề nghiệp
Quá trình thực nghiệm cùng những kết quả rút ra sau thực nghiệm cho thấy: Mục đích thực nghiệm đã được hoàn thành, tính khả thi và hiệu quả của phương pháp dạy học phần nào được được khẳng định.
Nếu trong quá trình dạy học hóa học, giáo viên quan tâm, giúp học sinh liên hệ các kiến thức với thực tiễn, thì sẽ hình thành và rèn luyện ý thức học, vận dụng thực tiễn, tìm ra các biện pháp để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn. Đồng thời góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học và hoàn thành nhiệm vụ giáo dục toàn diện của trường THPT.
Phương pháp giảng dạy theo hướng dạy học tích hợp STEM là một trong những định hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy học của Đảng, Nhà nước và của nghành giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời là sự kế thừa và phát huy những kinh nghiệm dạy học tiên tiến trên thế giới. Việc chuyển giao cho giáo viên thực nghiệm một cách thuận lợi và được vận dụng một cách sinh động, không gặp phải những trở ngại gì lớn và các
20; 63%
10; 31%
2; 6%
Thống kê phiếu điều tra học sinh 12A2 sau buổi học
Rất thích Thích Bình thường
mục đích dạy học được thực hiện một cách toàn diện, vững chắc thể hiện ở sự thành công của thực nghiệm sư phạm.
Việc kết hợp giáo dục nghề nghiệp vào bài học tạo hứng thu học tập tích cực cho học sinh đặc biệt với học sinh khối 12 khi các em cần tìm hiểu nhiều về thông tin nghề nghiệp và việc làm từ đó khiến môn học trở lên gần gũi và thiết thực hơn, hiệu quả giảng dạy cũng được nâng cao hơn.