Triệu chứng lâm sàng thường biểu hiện máu tụ quanh thận ghép xảy ra ở ngày 1-16 hậu phẫu. Nguyên nhân: Chảy máu từ miệng nối mạch thận hoặc từ 1 nhánh mạch máu trong rốn thận chưa được khâu hoặc buộc khi lấy thận.
Do chảy máu từ diện bóc tách vùng hố chậu, chảy máu vết mổ. Do rối loạn đông máu. Chẩn đoán: Siêu âm là phương tiện chẩn đoán đầu tiên, khi kết quả không rõ ràng hoặc nghi ngờ sẽ tiến hành chụp CT-Scanner [50], [51], [52]. Xử trí: phẫu thuật khâu cầm máu lại nơi chảy máu, chú ý tránh clamp lại động mạch gây nguy cơ thiếu máu nóng thận [53], [54].
1.4.2. Hẹp động mạch thận
Biến chứng hẹp động mạch thận gặp với tỉ lệ từ 1-23% sau ghép, tỷ lệ biến chứng này thay đổi tùy thuộc vào kỹ năng và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Vị trí thường gặp nhất là ngay tại miệng nối. Đôi khi gặp trường hợp hai miệng nối động mạch quá sát nhau nên khi nối xong, tuần hoàn lưu thông lại, áp lực dòng chảy động mạch sẽ gây gấp khúc động mạch tại miệng nối [16], [17], [35]. Thời gian xuất hiện hẹp động mạch thường khoảng 3 tháng sau ghép [55]. Biểu hiện lâm sàng: Tăng huyết áp không đáp ứng với điều trị. Nặng hơn là các triệu chứng suy giảm chức năng thận ghép hoặc có biểu hiện của thải ghép [16], [35]. Chẩn đoán xác định: bằng siêu âm Doppler động mạch thận ghép, hoặc chụp DSA [55], [56].
Nguyên nhân: Trước miệng nối do mảng xơ vữa hoặc do tổn thương tại vị trí clamp động mạch. Tại miệng nối thường liên quan đến kỹ thuật khâu nối.
Sau miệng nối có thể gặp do đáp ứng miễn dịch hoặc do tăng sản lớp nội mạc, tuy nhiên một số có thể gặp hẹp trong thận do quá trình thải ghép mạn tính [55], [56], [57].
Điều trị hẹp động mạch thận sau ghép có 3 phương pháp chính:
- Điều trị nội khoa kiểm soát tăng huyết áp, chỉ định với những bệnh nhân không có rối loạn nhiều về huyết động hoặc có nguy cơ cao khi sử dụng các biện pháp can thiệp qua da.
- Chỉ định phẫu thuật làm lại miệng nối động mạch thận khi có hẹp động mạch do gấp khúc hoặc hẹp tại miệng khâu nối động mạch, nong qua da thất bại [58].
- Can thiệp nội mạch qua da với tạo hình bằng nong hoặc đặt stent nội mạch.
Ưu tiên chỉ định trước khi nghĩ tới phẫu thuật làm lại miệng nối. Trong giai đoạn sớm, tỷ lệ thành công trên 80% và đáp ứng lâm sàng từ 74-87%. Đáp ứng lâm sàng sau 1 năm từ 53-70% với tỷ lệ hẹp tái phát từ 10-33% [16], [35], [57].
1.4.3. Huyết khối động mạch thận ghép
Tỷ lệ mắc được báo cáo là từ 0,2% đến 3,5% tùy theo từng trung tâm [59]. Xảy ra trong quá trình ghép có thể do: Tổn thương động mạch thận trong quá trình lấy thận gây rách, bong nội mạc mạch máu. Trạng thái tăng đông máu. Đặt vị trí thận sai khi ghép gây xoắn hoặc gập góc động mạch thận. Những nguyên nhân này thường có liên quan đến kỹ thuật và có thể phòng tránh được bằng kinh nghiệm của phẫu thuật viên [4], [18].
Lâm sàng: vô niệu đột ngột và cao huyết áp. Siêu âm Doppler không thấy bất kỳ dòng chảy động mạch trong ghép thận. Là một phẫu thuật cấp cứu, chẩn đoán xác định được thực hiện bằng siêu âm Doppler màu hoặc thăm dò phẫu thuật [16], [18], [35].
1.4.4. Huyết khối tĩnh mạch thận ghép
Huyết khối tĩnh mạch thận ghép là một biến chứng hiếm gặp trong ghép thận, theo y văn tỷ lệ này khoảng 0,1% đến 8,2%. Thường xảy ra trong vòng 7 ngày đầu sau ghép. Là phẫu thuật cấp cứu để tránh mất thận ghép [59], [60], [61].
Nguyên nhân: Do chèn ép bên ngoài hoặc do gấp xoắn tĩnh mạch thận.
Hiếm khi, các biến chứng kĩ thuật nối mạch có thể dẫn đến huyết khối. Ngoài ra có thể là tình trạng tăng đông máu. Biểu hiện lâm sàng: Tình trạng thiểu niệu đột ngột hoặc vô niệu. Đau bụng, tiểu máu. Có thể sốc tuần hoàn do xuất huyết. Chẩn đoán: Creatinin máu cao ngay trong giai đoạn hậu phẫu. Siêu âm Doppler: Có thể thấy thận to ra với mất dòng chảy tĩnh mạch trên Doppler màu và xung [18], [59], [60].
Điều trị: cần can thiệp khẩn cấp để lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch và khôi phục lưu lượng máu thì có thể cứu được thận ghép, nếu phương pháp điều trị này không hiệu quả thì phải tiến hành phẫu thuật cắt bỏ thận để cứu bệnh nhân [18], [35], [62], [59].
1.4.5. Bóc tách động mạch chậu ngoài sau phẫu thuật
Là một biến chứng rất hiếm gặp, cần được chẩn đoán và điều trị kịp sớm do có thể gây mất thận ghép và tắc nghẽn mạch chi dưới. Nguyên nhân: có thể do chấn thương động mạch chậu ngoài trong khi phẫu thuật hoặc do kỹ thuật khâu nối không tốt làm lóc tách nội mạc mạch máu. Các yếu tố thuận lợi cho biến chứng này ở các bệnh nhân có bệnh kết hợp như: đái tháo đường, tăng huyết áp, mỡ máu cao, xơ vữa động mạch…
Biểu hiện lâm sàng: xuất hiện tăng huyết áp, đau đột ngột vùng chi dưới, chi dưới không có mạch, thiểu niệu, vô niệu. Chẩn đoán dựa vào siêu âm Doppler thấy mất dòng chảy của ĐM thận ghép và ĐM đùi.
Điều trị: Bệnh nhân cần được điều trị ngay lập tức bằng nong mạch qua da và đặt stent hoặc phẫu thuật cắt đoạn ĐM chậu phình tách, thay thế bằng đoạn mạch ghép nhân tạo PTFE [60].