Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước

Một phần của tài liệu 8.3._B7_La- Vũ Ngọc Thắng.pdf (Trang 45 - 51)

Theo Mazzucchi E. và cs nghiên cứu kỹ thuật và so sánh kết quả 64 ca ghép thận có nhiều động mạch với 292 thận ghép có 1 động mạch, cho thấy tỉ lệ bất thường nhiều động mạch là 17,9%. Các kỹ thuật xử trí bao gồm: ghép đôi hai động mạch (17,2%), nối tận - bên động mạch nhỏ vào động mạch lớn hơn (9,4%), nối động mạch cực dưới với động mạch thượng vị (7,8%), thắt động mạch cực thận (6,2%). So sánh kết quả thấy rằng tỉ lệ biến chứng mạch máu là như nhau (3,1% so với 3,1%), tỉ lệ biến chứng niệu khác nhau không có ý nghĩa (6,3% so với 2,7%) và tỉ lệ giảm chức năng sau ghép cũng không có khác biệt (35,1% so với 29,1%) [16].

Tương tự, Zivko P. và cs (2020), nghiên cứu sau ghép 250 thận nhiều động mạch và bất thường giải phẫu tĩnh mạch thận với tỉ lệ 16,4% nhiều động mạch thận, tùy theo kích thước, vị trí mà các ĐM được khâu nối với ĐM chậu ngoài, ĐM chậu trong, ĐM thượng vị, ĐM thận chính, hoặc tạo hình.

Kết quả theo dõi sau 1 tháng, 6 tháng, 12 tháng cho thấy, giữa các nhóm có hoặc không có bất thường về mạch máu như nhau về tỷ lệ sống, không có biến chứng phẫu thuật nghiêm trọng liên quan đến kỹ thuật khâu nối cho những bất thường mạch máu [63].

Daound K.A.A. (2015), nghiên cứu 2 nhóm khâu nối tận-tận ĐM thận với ĐMCT (nhóm 1: 35 bệnh nhân), và nhóm khâu nối tận –bên ĐM thận với ĐMCN (nhóm 2: 41 bệnh nhân), kết quả trong năm đầu tiên sau phẫu thuật 4 người tử vong ở nhóm 1 và 5 người tử vong ở nhóm 2, tỷ lệ biến chứng phẫu thuật, tỷ lệ sống sau sau phẫu thuật của 2 nhóm là tương đương nhau [64].

Hướng dẫn ghép thận của hội tiết niệu Châu Âu EAU (2018), trước khi ghép thận cần đánh giá một cách tỷ mỷ, cẩn thận mạch máu thận ghép, nhất là lựa chọn kiểu khâu nối với TM thận ghép trước khi ghép thận vào hố chậu.

Khâu nối ĐM thận tận – tận với ĐMCT hay khâu nối ĐM thận với ĐMCN tận- bên cho kết quả như nhau. Tỷ lệ biến chứng huyết khối ĐM từ 0,5-3,5% thường là hậu quả của lỗi kỹ thuật trong quá trình thực hiện khâu nối. Biến chứng hẹp ĐM thận ghép có tỷ lệ từ 1 đến 25%. Biến chứng huyết khối TM có tỷ lệ 0,5 đến 4%, thường gây mất thận ghép trong 1 tháng đầu tiên sau phẫu thuật [65].

Marcel Z. và cs (2016) nghiên cứu tổng cộng 18,289 bệnh nhân được ghép thận nhiều ĐM và một ĐM. Kết quả cho thấy biến chứng mạch máu ở nhóm thận ghép đa ĐM là 13,8% và nhóm thận ghép đơn ĐM là 11,0%, tỷ lệ sống sau ghép thận của nhóm nhiều ĐM là 93,2% và nhóm đơn ĐM là 94,5%, tỷ lệ sống của thận ghép sau 5 năm của thận ghép là 81,4% ở nhóm ghép nhiều ĐM và 81,6% ở nhóm ghép thận đơn ĐM [66].

Nghiên cứu của Reyna-Sepúlveda F., được thực hiện từ năm 2011 đến 2015 tại Bệnh viện Đại học Jose Eleuterio González trên 55 bệnh nhân được ghép thận, kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ biến chứng ngoại khoa sau phẫu thuật là 12,7% trong đó hẹp động mạch thận là biến chứng mạch máu phổ biến nhất chiếm 3% [60].

Nghiên cứu của Mehmet H. và cs thực hiện năm 2016, nhận thấy biến chứng huyết khối động mạch thận có tỷ lệ từ 0,5% đến 3,5%, huyết khối tĩnh mạch có tỷ lệ từ 0,1% đến 8,2% và thường xuất hiện trong 7 ngày đầu sau phẫu thuật. Hẹp ĐM thận ghép có tỷ lệ từ 1 đến 23% thường xuất hiện khoảng 3 tháng sau phẫu thuật [59].

Mehmet F.I. và cs (2014), tỷ lệ biến chứng hẹp động mạch thận ghép là biến chứng phổ biến với tỷ lệ từ 1% đến 23% tùy trung tâm và là nguyên nhân quan trọng gây tăng huyết áp ở người được ghép thận. Phương pháp điều trị ưu tiên là nong mạch qua da dưới DSA, và nếu thất bại thì mới chuyển sang phẫu thuật [67].

Nghiên cứu của Mark D.S. và cs (2017) tại bệnh viện Mayo Clinic- Hoa Kỳ, tỷ lệ huyết khối ĐM thận ghép là khá thấp từ 0,1% - 1,2%, trong khi đó tỷ lệ hẹp ĐM thận có tỷ lệ từ 1,5% - 12,5%, nong động mạch có hoặc không đặt stent là một trong những lựa chọn điều trị tiềm năng cho chứng hẹp động mạch thận, với tỷ lệ tái hẹp trong stent được báo cáo lên đến 13% các trường hợp [68].

Theo tác giả Ahmed S. năm 2009, nghiên cứu trên 1785 ca ghép thận từ người cho sống, trong đó 1546 người lớn và 239 trẻ em, tỷ lệ biến chứng mạch máu chung là 2,9%. Ở người lớn, 46 biến chứng trên 45 bệnh nhân gồm 10 trường hợp huyết khối ĐM thận (0,6%), 2 trường hợp co thắt ĐM thận (0,1%), hẹp ĐM thận 5 (0,3%), huyết khối TM thận (0,06 %) và biến chứng xuất huyết ở 28 bệnh nhân (1,8%). Một phân tích độc lập, giới tính nữ, nối ĐM thận ghép với ĐMCN có biến chứng cao hơn ở nhóm người lớn cũng như trẻ em từ 5-10 tuổi (p <0,001). Các biến chứng mạch máu có ý nghĩa bất lợi cho bệnh nhân và tỷ lệ sống của thận ghép ở cả hai nhóm (p <0,001) [69].

1.5.2. Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước

Tác giả Nguyễn Thanh Liêm, nghiên cứu trên 54 ca ghép thận từ người cho sống ở 3 bệnh viện (bệnh viện 103, bệnh viện TW Huế, bệnh viện Nhi TW). Các kỹ thuật xử lý động mạch thận được áp dụng: nối 2 động mạch thành 1 thân chung theo kiểu nòng súng; khi 2 động mạch có kích thước dài, cùng và rốn thận, 2 động mạch có đường kính động tương đương. Nối động mạch cực thận và động mạch chính kiểu tận-bên, khi động mạch cực trên thận ngắn, ở xa so với động mạch rốn thận. Trên các động mạch cực thận có kích thước ngắn, đường kính nhỏ hơn 1mm, diện tích vùng nhu mô cấp máu nhỏ < 2 cm2, có thể cắt bỏ (5 trường hợp), kết quả sau ghép chức năng thận vẫn tốt. Các trường hợp không thể thực hiện kỹ thuật khâu nối mạch máu trước ghép, giữ nguyên 2 thân động mạch thận để nối vào động mạch chậu ngoài theo 2 miệng nối riêng biệt, hoặc nối 1 động mạch thận với động mạch chậu trong và 1 động mạch cực thận với động mạch thượng vị [14].

Nghiên cứu của tác giả Đoàn Quốc Hưng và cs (2016), trên 176 cặp ghép thận tại bệnh viện Việt Đức, trong đó 2 động mạch thận gặp 35/176 trường hợp chiếm 19,89%; Trong nhóm này, 24 trường hợp (13,64%) thực hiện 2 miệng nối riêng rẽ với ĐMCN, 1 miệng nối với ĐMCN - 1 miệng nối với ĐM chậu gốc cho 9 trường hợp (5,11%); tạo hình 2 ĐM kiểu nòng súng rồi nối với ĐMCN gặp 2 trường hợp (1,11%) [15].

Tác giả Trương Hoàng Minh và cs (2016), nghiên cứu “Ghép thận trên thận ghép có bất thường mạch máu ở người cho sống, kết quả tại bệnh viện Nhân dân 115”, kết quả cho thấy có 28/109 trường hợp bất thường mạch máu, trong đó bất thường động mạch là 14 trường hợp (chiếm 12,8%), bất thường tĩnh mạch là 12%. Kết quả thời gian khâu nối mạch máu của nhóm bất thường mạch máu là 48,2 ± 1,44 phút và nhóm không có bất thường là 44,4 ± 1,16 phút, tỷ lệ tai biến và biến chứng giữa hai nhóm không có sự khác biệt [70].

Nguyễn Trường Giang (2012), nghiên cứu kỹ thuật khâu nối mạch máu trong ghép thận qua 98 trường hợp tại bệnh viện 103, cho rằng: trong khi ghép thận, miệng nối TM thường được thực hiện đầu tiên bằng phương pháp nối tận-bên giữa TM thận và TM chậu gốc hoặc chậu ngoài. Kỹ thuật khâu nối TM gần như đã được chuẩn hóa khi không có bất thường về TM thận.

Việc nối TM thận vào TM chậu gốc hay chậu ngoài thực chất là do vị trí của TM chậu trong quyết định. Nếu TM chậu trong hợp lưu sớm, TM chậu gốc sẽ dài và TM thận sẽ được nối với TM chậu gốc. Ngược lại, khi TM chậu trong hợp lưu muộn, TM thận sẽ được nối với TM chậu ngoài [71].

Tác giả Đoàn Quốc Hưng và cs (2016), trong 176 trường hợp có 09 trường hợp được thực hiện 02 miệng nối tận bên với TM chậu ngoài (5,11%);

1 trường hợp (0,57%) 3 TM thận, trong đó 2 thân TM được lấy cả vạt Carrel Patch TM chủ rồi thực hiện 2 miệng nối với TM chậu; Thắt TM chậu trong để di động TM chậu ngoài áp dụng cho 15 trường hợp (8,52%), không có biến chứng mạch máu sau phẫu thuật [15].

Theo Dư Thị Ngọc Thu, trong nghiên cứu kết quả phẫu thuật 287 trường hợp ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1992 – 2013 cho thấy tỷ lệ biến chứng ngoại khoa sau phẫu thuật là 13/287 trường hợp (chiếm 4,5%), trong đó có 3/287 trường hợp chảy máu phải mổ lại để cầm máu (chiếm 1,04%) [18].

Nguyễn Minh Tuấn (2020), nghiên cứu 84 trường hợp ghép thận từ người cho sống có bất thường mạch máu tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức. Tỷ lệ chảy máu sau mổ 5/84 trường hợp (6%). Tỷ lệ hẹp động mạch thận là 1/84 trường hợp (1,2%), tắc ĐM do huyết khối 1/84 trường hợp (1,2%) [61].

Trần Ngọc Sinh và cs, nghiên cứu 176 trường hợp ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy, biến chứng ngoại khoa 2,84%, trong đó tỷ lệ biến chứng chảy máu phải mổ lại 2/176 trường hợp (1,14%) [53].

Tại Việt Nam, ghép thận đã trở thành phẫu thuật thường quy tại một số trung tâm ghép lớn. Tỷ lệ biến chứng liên quan đến phẫu thuật có xu hướng

giảm, đặc biệt là khi so sánh với các ca ghép tạng khác như ghép gan và tụy.

Tuy nhiên, khi có biến chứng xảy ra sẽ có nguy cơ mất thận ghép cũng như ảnh hưởng tới tính mạng bệnh nhân, vì vậy đánh giá đặc điểm mạch máu thận ghép, đặc điểm mạch chậu, áp dụng các phương pháp khâu nối thích hợp cho các trường hợp bất thường mạch máu, hạn chế biến chứng, nâng cao chất lượng thận ghép đặc biệt quan trọng [3].

Chương 2

Một phần của tài liệu 8.3._B7_La- Vũ Ngọc Thắng.pdf (Trang 45 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(176 trang)