âu 20 Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, phân tích sự phân hóanhiệt độ của nước ta theo hướng bắc - nam
2. Phân tích tác động của gió mùa đến khí hậu nước ta trong thời kì từ tháng V đến tháng X
- Từ tháng V – X nước ta chịu tác động của hai luồng gió cùng hướng Tây Nam: Khối khí nhiệt đới ẩm Bắc Ấn Độ Dương (TBg) và Tín phong Nam bán cầu.
- Đầu mùa hạ khối khí nhiệt đới ẩm từ vịnh Bengan di chuyển theo hướng Tây Nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn cho Nam Bộ và Tây Nguyên, gây hiệu ứng phơn cho ven biển Trung Bộ và phía nam Tây Bắc.
- Giữa và cuối hạ, Tín phong Nam bán cầu hoạt động mạnh, gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ, Tây Nguyên, kết hợp với dải HTNĐ gây mưa cho cả hai miền Nam, Bắc và mưa vào tháng 9 cho Trung Bộ. Do áp thấp Bắc Bộ, gió này di chuyển theo hướng Đông Nam vào Bắc Bộ tạo nên gió mùa Đông Nam vào mùa hạ ở miền Bắc nước ta Câu 30. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, giải thích tại sao
a) Về mùa hạ, Huế có nhiệt độ cao nhất và Hà Nội có nhiệt độ cao hơn ở TP. Hồ Chí Minh.
b) Trong cả mùa mưa lẫn mùa khô, Huế vẫn có lượng mựa lớn hơn ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
a) Về mùa hạ, Huế có nhiệt độ cao nhất và Hà Nội có nhiệt độ cao hơn ở TP. Hồ Chí Minh.
-Đầu mùa hạ, Huế chịu tác động rất mạnh của phơn Tây Nam khô nóng, nên nhiệt độ tăng cao (nhiệt độ tháng VII là 29,4°C).
-Hà Nội tuy ở xa Xích đạo hơn TP. Hồ Chí Minh, nhưng cũng chịu tác động của phơn Tây Nam khô nóng nên nhiệt độ cao hơn ở TP. Hồ Chí Minh (28,9°C so với 27,1°C vào tháng VII); trong khi mùa hạ ở TP. Hồ Chí Minh có mưa nhiều.
b) Trong cả hai mùa, Huế là nơi có lượng mưa lớn hơn Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
-Mùa mưa ở Huế kéo dài từ tháng VIII - I, lớn nhất vào tháng X; các tháng mùa mưa ở Huế có lượng mưa rất lớn so với các tháng mưa nhiều ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Lượng mưa ở Huế rất lớn do các nhân tố tác động đến mưa (dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp, bão, gió mùa Đông Bắc gặp dãy Trường Sơn) gần như tập trung vào trong một thời gian ngắn và có nhiều thời điểm một số nhân tố gây mưa trùng nhau, gây nên cường độ mưa rất lớn.
-Mùa khô ở Huế kéo dài từ tháng II - VII.
+ Tháng II, III, IV trùng với mùa khô cả nước với sự hoạt động của gió mùa Đông Bắc. Nếu như ở miền Bắc, gió này gây thời tiết hanh khô, thì ở Huế có mưa do gió Đông Bắc gặp dãy Trường Sơn; trong khi thời gian này ở TP.
Hồ Chí Minh có lượng mưa không đáng kể do ảnh hưởng của Tín phong Bán cầu Bắc.
+ Tháng VI ở Huế có lượng mưa tăng lên do tác động của mưa Tiểu mãn. Đến tháng VII, bắt đầu có hoạt động của gió mùa Tây Nam, lượng mưa bắt đầu tăng lên, để đến tháng VIII thì bước vào mùa mưa ở đây.
Câu 31 . Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, phân tích tác động của gió mùa và Tín phong Bán cầu Bắc đến sự phân hóa mưa theo mùa và theo khu vực ở Việt Nam.
a) Tác động của gió mùa mùa đông
-Từ tháng XI - IV, gió mùa Đông Bắc từ cao áp phương Bắc thổi vào nước ta, nơi, đón gió mạnh nhất là vùng Đông Bắc, tiếp đến là đồng bằng Bắc Bộ. Càng về phía nam, gió bị biến tính, yếu dần và bị chặn lạiở dãy Bạch Mã.
-Nửa đầu mùa đông (tháng XI - I), gió này gây ra thời tiết lạnh khô ở miền Bắc. Vào miền Trung, do frông cực gặp dãy Trường Sơn Bắc nên gây mưa nhiều cho khu vực từ NghệAn đến Thừa Thiên Huế.
-Nửa sau mùa đông (tháng II- IV), gió bị lệch qua biển, mang nhiều ẩm thổi vào nước ta gây mưa phùn, nhất là ở các khu vực ven biển miền Trung và đồng bằng Bắc Bộ.
b) Tác động của gió mùa mùa hạ
-Từ tháng V - X, gió mùa mùa hạ thổi vào nước ta theo hướng tây nam.
- Vào đầu mùa hạ, gió Tây Nam từ khối khí Bắc Ấn Độ Dương thổi vào nước ta, gây mưa cho Tây Nguyên và Nam Bộ. Sau khi vượt các dãy núi ở Nam Tây Bắc và vượt dãy Trường Sơn xuống Duyên hải miền Trung gây nên hiện tượng phơn khô nóng.
-Vào giữa và cuối mua hạ, gió mùa Tây Nam nguồn gốc cao áp Nam bán cầu vượt qua vùng biển Xích đạo thổi vào nước ta, gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên. Gió này cùng với dải hội tụ nhiệt đới là nguyên nhân gây mưa vào mùa hạ cho cả hai Nam, Bắc và mưa vào tháng IX cho Trung Bộ. Khi thổi ra Bắc, dò bị hút vào áp thấp Bắc Bộ, gió chuyển hướng đông nam.
c) Tác động của Tínphong Bán cầu Bắc
-Vào mùa đông, Tín phong Bán cầu Bắc hoạt động xen kẽ với gió mùa Đông Bắc ở miền Bắcvà thống trị ở miền Nam. Gió này khô, độ ẩm tương đối thấp nên gây ra một mùa khô cho miền Nam nước ta.
-Vào mùa hạ
+ Vào đầu mùa hạ, Tín phong Bán cầu Bắc cùng với gió Tây Nam tạo nêu dải hội tụ chạy theo hướng kinh tuyến gây mưa Tiểu mãn cho Trung Bộ và mưa lớn cho Tây Nguyênvà Nam Bộ.
+ Vào giữa và cuối mùa hạ, Tín phong Bán cầu Bắc cùng với gió mùa Tây Nam tạo nên dải hội tụvắt ngang qua nước ta, gây mưa lớn. Dải hội tụ lùi dần từ bắc vào nam làm cho đỉnh mưa cũng lùi dần theo.
-Vào thời kì mùa xuân, Tín phong Bán cầu Bắc thổi vào nước ta từ rìa tây nam của cao áp Tây Thái Bình Dương nên có hướng đông nam. Do vào thời gian này, gió mùa Dông Bắc bị suy yếu, gió Tây Nam chưa hoạt động nên Tín phong Đông Nam hoạt động độc lập, gậy nên thời tiết “nồm” ẩm ướt.
Câu 32:
a) Dựa vào Atlat Địa lý Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày và giải thích sự phân hóa chế độ mưa trong mùa đông ở nước ta.
Sự phân hóa chế độ mưa trong mùa đông ở nước ta:
- Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa chế độ mưa trong mùa đông ở nước ta là do hoạt động của gió mùa Đông Bắc và gió Tín phong.
- Miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra):
+ Nửa đầu mùa đông: Bắc Bộ khô ráo do gió mùa Đông Bắc thổi qua lục địa; Bắc Trung Bộ có mưa do frông lạnh gặp dãy Trường Sơn Bắc.
+ Nửa sau mùa đông: có mưa phùn ven biển và các đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ do gió mùa Đông Bắc lệch qua biển.
- Miền Nam (từ dãy Bạch Mã trở vào)
+ Nam Bộ và Tây Nguyên khô, ven biển Nam Trung Bộ có mưa.
+ Do Tín phong bán cầu Bắc chiếm ưu thế, ven biển Nam Trung Bộ có địa hình núi chắn gió.
b) Hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới có ảnh hưởng như thế nào đến chế độ mưa trong mùa hạ ở nước ta?
- Dải hội tụ nhiệt đới được hình thành giữa gió mùa mùa hạ và Tín phong bán cầu Bắc, có tác động lớn đến chế độ mưa.
- Đầu mùa hạ: được hình thành nhờ sự gặp nhau giữa gió tây nam từ Bắc Ấn Độ Dương và Tín phong bán cầu Bắc chạy theo hướng kinh tuyến, gây mưa đầu mùa cho cả nước và mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên.
- Giữa và cuối mùa:
+ Được hình thành giữa gió mùa Tây Nam (Tín phong bán cầu Nam) và Tín phong bán cầu Bắc, vắt ngang qua nước ta, gây mưa lớn.
+ Dải hội tụ nhiệt đới lùi dần về phía Nam do chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, làm cho đỉnh mưa cũng lùi dần từ Bắc vào Nam.
Câu 33. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, phân tích tác động của dải hội tụ nhiệt đới đến khí hậu nước ta.
-Dải hội tụ nhiệt đới ở nước ta được hình thành bởi gió mùa mùa hạ gặp Tín phong Bán cầu Bắc.
-Đầu mùa hạ, gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến gặp Tín phong Bán cầu Bắc tạo nên dải hội tụ nhiệt đới chạy theo hướng kinh tuyến, gây mưa Tiểu mãn cho miền Trung.
-Giữa và cuối mùa hạ, gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ Nam bán cầu lên gặp Tín phong Đông Bắc tạo nên dải hội tụ chạy theo hướng vĩ tuyến, vắt ngang qua nước ta, gây biến động dữ dội thời tiết (mưa, áp thấp, bão...) Dải hội tụ nàydịch chuyển từ Bắc vào Nam theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, tháng VIII vắt ngang qua Bắc Bộ, tháng IX và X dịch chuyển vào Nam Bộ và Trung Bộ.
Câu 34. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, phân tích các nhân tố tác động đến chế độ mưa ở nước ta.
-Ví trí địa lí
+ Nước ta nằm trong khu vực gió mùa của châu Á, nên có mưa theo mùa, lượng mưa trong mùa mưa chiếm đến 85% lượng mưa cả năm.
+ Nước ta tiếp giáp với Biển Đông rộng lớn nên các khối khí được tăng cường ẩm khi đi qua biển, góp phần làm tăng lượng mưa (ví dụ gió mùa Đông Bắc vào nửa sau mùa đông gây mưa phùn ở ven biển, đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải Bắc Trung Bộ).
-Hoàn lưu khí quyển
+ Gió Tây Nam nóng ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương đến và gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ Nam bán cầu lên gây mưa. Gió mùa Đông Bắc và Tín phong Bán cầu Bắc khô gây ra thời tiết khô.
+ Áp thấp và bão từ Biển Đông tràn vào nước ta gây mưa lớn ở những nơi hoạt động.
+ Dải hội tụ và frông đều gây mưa, đặc biệt dải hội tụ gây mưa lớn.
-Địa hình
+ Độ cao địa hình ảnh hưởng trực tiếp đến lượng mưa: càng lên cao, lượng mưa càng tăng; đến một độ cao nào đó, lượng mưa giảm do hết ẩm. Ở khu vực đồi núi có lượng mưa lớn hơn ở đồng bằng.
+ Hướng địa hình kết hợp với gió tạo nên sự phân hóa về mưa trên lãnh thổ nước ta: ở nơi địa hình cao, đón gió có lượng mưa lớn (Móng Cái, các đỉnh núi ở biên giới Việt - Trung, Hoàng Liên Sơn, Bạch Mã, khối núi Ngọc Linh - Kon Tum,cực Nam Trung Bộ...); nơi địa hình thấp trũng, khuất gió (Mường Xén...) hoặc nơi song song với hướng gió (Phan Rang...) đều có mưa rất ít; dãy Trường Sơn và các dãy núi chạy dọc biên giới Việt - Lào cùng với gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến gây ra hiện tượng phơn khô nóng cho Duyên hải miền Trung và phần nam khu vực Tây Bắc...
Câu 35. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, phân tích tác động của gió mùa mùa đông đến sự phân hóa khí hậu nước ta.
-Vào mùa đông ở nước ta (tháng XI đến tháng IV), có sự hoạt động của gió mùa Đông Bắc và Tín phong Bán cầu Bắc.-Gió mùa Đông Bắc:
+ Khối khí lạnh từ cao áp phươngBắc thổi vào nước ta theo hướng đông bắc, gọi là gió mùa Đông Bắc, hoạt động ở miền Bắc nước ta; khi đi về phía nam, gió bị suy yếu và bị chặn lại ở dãy Bạch Mã, chỉ có những đợt có cường độ mạnh mới thổi qua được.
+ Tác động đến chế độ nhiệt: Với tính chất lạnh khô, gió này làm nền nhiệt ở miền Bắc hạ thấp, có 3 tháng nhiệt độ dưới 18°C. Ở Đông Bắc, các thung lũng giữa các cánh cung núi hút gió mạnh làm nhiệt độ thấp nhất; dãy Hoàng Liên Son ngăn không cho gió này xâm nhập trực tiếp vào Tây Bắc, phải xâm nhập theo thung lũng sông Hồng, sông Đà từ đồng bằng Bắc Bộ lên, nên cùng một độ cao, nhiệt độ ở Tây Bắc cao hơn ở Đông Bắc. Càng đi về phía nam, gió mùa Đông Bắc bị suy yếu và biến tính, nên không còn lạnh như ở Bắc Bộ nữa.
+ Tác động đến chế độ mưa: Nửa đàu mùa đông, gió mùa Đông Bắc thổi qua lục địa Trung Hoa rộng lớn, khi đi vào nước ta gây thời tiết hanh khô cho Bắc Bộ; khi vào miền Trung, gặp dãy Trường Sơn Bắc, gây mưa cho khu vực từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế.
- Tín phong Bán cầu Bắc: Tín phong Bán cầu Bắc (còn gọi là Tín phong Đông Bắc) hoạt động quanh năm trên phạm vi cả nước, tính chất của gió này là nóng, khô và tương đối ổn định.
+ Ở miền Bắc, Tín phong Đông Bắc thổi xen kẽ với gió mùa Đông Bắc, mạnh lên khi gió mùa Đông Bắc suy yếu, gây nên thời tiết khô ấm giữa những ngày đông lạnh giá.
+ Ở miền Nam, Tín phong Đông Bắc thống trị, gây nên một mùa khô sâu sắc ở Nam Bộ và Tây Nguyên.
+ Ở Trung Bộ: Tín phong Đông Bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa cho vùng ven biển Trung Bộ.
Câu 36. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, phân tích tác động của gió mùa hạ đến khí hậu nước ta.
-Vào mùa hạ ở nước ta (tháng V - X) có hoạt động của gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến, gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ cao áp cận chí tuyến Nam bán cầu lên và Tín phong Bán cầu Bắc.
- Gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương: vào đầu mùa hạ, khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương di chuyển theo hướng tây nam xâm nhập trực tiếp vào nước ta, gây mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Khi vượt qua dãy Trường Sơn và các dãy núi chạy dọc biên giới Việt - Lào, tràn xuống vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc, gây ra thời tiết khô nóng.
- Gió mùa Tây Nam: Vào giữa và cuối mùa hạ, gió mùa Tây Nam xuất phát từ cao áp cận chí tuyến Bán cầu Nam hoạt động mạnh. Khi vượt qua vùng biểnXích đạo, khối khí này trở nên ẩm hơn, thường gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên. Hoạt động của gió mùa Tây Nam cùng với dải hội tụ nhiệt đới là nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc và mưa tháng 9 cho Trung Bộ. Do áp thấp Bắc Bộ, khối khí này di chuyển theo hướng đông nam vào Bắc Bộ tạo nên "gió mùa Đông Nam" vào mùa hạ ở miền Bắc nước ta.
- Tín phong Bán cầu Bắc (còn gọi là Tín phong Đông Bắc) hoạt động thường xuyên quanh năm ở nước ta.
+ Đầu mùa hạ, Tín phong Bán cầu Bắc gặp gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dưong đến tạo nên dải hội tụ nhiệt đới chạy theo hướng kinh tuyến, gây mưa Tiểu mãn cho miền Trung.
+ Giữa và cuối mùa hạ, Tín phong Đông Bắc gặp gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ Nam bán cầu lên tạo nên dải hội tụ chạy theo hướng vĩ tuyến, vắt ngang qua nước ta, gây biến động dữ dội thời tiết (mưa, áp thấp, bão...). Dải hội tụ này dịch chuyển từ Bắc vào Nam theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, tháng 8 vắt ngang qua Bắc Bộ, tháng 9 và 10 dịch chuyển vào Nam Bộ và Trung Bộ.
+ Gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương (vào đầu mùa hạ) và gió mùa Tây Nam (vào giữa và cuối mùa hạ) đều thổi theo từng đợt; những lúc các gió này suy yếu, Tín phong Bắc bán cầu gây ra thời tiết khô.
- Gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến, gió mùa Tây Nam và Tín phong Bán cầu Bắc đều làm cho nền nhiệt cả nước cao trong mùa hạ.
Câu 37 : Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy chứng minh khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm, đa dạng và thất thường?
* Tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm:
- Nhiệt đới: Số giờ nắng đạt từ 1400 - 3000 giờ/ năm; Bình quân 1 triệu Kcal/m2; Nhiệt độ trung bình năm trên 200C.
- Gió mùa:
+ Gió mùa mùa hạ: Hướng Tây Nam, hoạt động từ tháng 5 -> tháng 10, đem đến cho Việt Nam một lượng mưa lớn.+ Gió mùa mùa đông: Hướng Đông Bắc, hoạt động từ tháng 11 -> tháng 4 năm sau: khô, lạnh, lượng mưa giảm.
- Ẩm: Độ ẩm trung bình năm lớn ( > 80%); Lượng mưa trung bình năm đạt 1500 - 2000 mm.
* Tính đa dạng và thất thường:
- Đa dạng: Khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa nước ta không thuần nhất trên toàn quốc, phân hoá theo không gian, thời gian hình thành nên các vùng miền khí hậu khác nhau rõ rệt:
+ Miền khí hậu phía Bắc, từ Hoành Sơn (vĩ tuyến 180B) trở ra, có mùa đông lạnh, tương đối ít mưa, cuối đông ẩm ướt, mùa hè nóng và mưa nhiều.
+ Miền khí hậu Đông Trường Sơn, từ Hoành Sơn tới mũi Dinh (vĩ tuyến 110B) có mùa mưa lệch hẳn về thu đông.
+ Miền khí hậu phía Nam bao gồm Nam Bộ và Tây Nguyên có khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ quanh năm cao, với mùa mưa và mùa khô tương phản sâu sắc.
+ Miền khí hậu biển Đông Việt Nam mang tích chất nhiệt đới gió mùa Hải Dương.
- Thất thường: Khí hậu Việt Nam rất thất thường, biến động mạnh, có năm rét sớm, có năm rét muộn, năm mưa lớn, năm khô hạn, năm ít bão, năm nhiều bão…
Câu 38. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, chứng minh địa hình là nhân tố quan trọng tác đông đến sự phân hóa khí hậu Việt Nam.
a) Độ cao địa hình
-3/4 diện tích địa hình Việt Nam là đồi núi, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp (85% địa hình cao dưới 1000m), nên khí hậu chủ yếu của nước ta là nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình năm trên 20°C.
- Do độ cao địa hình, nên khí hậu nước ta phân hóa thành 3 đai cao: đai nhiệt đới gió mùa (độ cao trung bình đến 600 - 700m ở miền Bắc và đến 900 - 1000m ở miền Nam); đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi (độ cao đến 2600m);
đai ôn đới gió mùa trên núi (từ 2600m trở lên, chỉ có ở miền Bắc).
- Những đỉnh núi cao đón gió là những nơi mưa nhiều của nước ta (Móng Cái, các núi dọc biên giới Việt - Trung, dãy Bạch Mã, Ngọc Lĩnh, cực Nam Trung Bộ...). Nơi địa hình thấp, trũng, khuất gió có lượng mưa rất thấp (Móng Cái, thung lũng sông Ba...).
b) Hướng địa hình - Hướng vòng cung:
+ Các cánh cung núi Đông Bắc mở rộng về phía bắc và phía đông đón gió mùa Đông Bắc trực tiếp, làm cho nền nhiệt độ ở đây vào mùa đông thấp nhất nước ta, có 3 tháng nhiệt độ xuống dưới 18°C.
+ Cánh cung Đông Triều thẳng góc với hướng gió Đông Nam vào mùa hạ, gây mưa ở sườn đón gió và ít mưa ở vùng khuất gió (Cao Bằng, Lạng Sơn).