- Điều 5 quy định: Công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ thông tin không được tiếp cận quy định tại Điều 6 của Luật này; được tiếp cận có Điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 7 của Luật này.
- Điều 9 quy định phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin:
1. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, trừ trường hợp quy định tại Điều 6 của Luật này; đối với trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này thì cung cấp thông tin khi có đủ Điều kiện theo quy định.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra và thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 6 của Luật này; đối với trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này thì cung cấp thông tin khi có đủ Điều kiện theo quy định.
2. Cơ quan nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện việc cung cấp thông tin, trừ các trường hợp sau đây:
h) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp cho công dân cư trú trên địa bàn thông tin do mình và do các cơ quan ở cấp mình tạo ra, thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; cung cấp cho công dân khác thông tin này trong trường hợp liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
Đối chiếu với quy định thì việc tiếp cận thông tin đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điều 6, Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin.
- Điều 10 quy định cách thức tiếp cận thông tin:
Công dân được tiếp cận thông tin bằng các cách thức sau:
1. Tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai;
2. Yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.
- Điều 12 quy định chi phí tiếp cận thông tin:
1. Công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp luật khác có quy định.
2. Người yêu cầu cung cấp thông tin phải trả chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin.
Với những quy định nêu trên thì bạn có quyền biết và đề nghị sao chụp bản vẽ quy hoạch (bản đồ quy hoạch sử dụng đất) tại Ủy ban nhân dân cấp xã và trả các chi phí liên quan./.
Câu 26: Thắc mắc về mâu thuẫn giữa Luật đất đai và các Thông tư hướng dẫn
Kính thưa Sở Tài Nguyên và Môi trường!Tôi có một vấn đề thắc mắc về Luật đất đai 2013 (phần liên quan việc cho thuê), xin giải đáp:
Tại Khoản 3 Điều 188 Luật Đất Đai 2013, có nêu: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.
Đọc quy định trên tôi hiểu là mọi trường hợp cho thuê đất, bao gồm cả tài sản gắn liền với đất đều phải tiến hành thủ tục đăng ký biến động tại cơ quan đăng ký đất đai.
Tuy nhiên, trong phần quy định các trường hợp xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp khi đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, tại điểm đ Khoản 1 điều 17 Thông tư 23 quy định: “Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao thực hiện đăng ký cho thuê, thuê lại đất; xóa đăng ký cho thuê, cho thuê lại đất”, và tại điểm b Khoản 2 Điều 20 của Thông tư 23 cũng quy định sử dụng Trang bổ sung Giấy chứng nhận để xác nhận thay đổi đối với trường hợp cho thuê, cho thuê lại đất hoặc xóa cho thuê, cho thuê lại đất của doanh nghiệp đầu tư hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Đọc hướng dẫn tại Thông tư 23 tôi lại hiểu không phải mọi trường hợp cho thuê đất đều phải tiến hành thủ tục đăng ký biến động, mà chỉ có các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế mới phải tiến hành thủ tục đăng ký biến động.
Như vậy Luật và Thông tư có mâu thuẩn không? Hay chủ ý của Nhà nước là chỉ yêu cầu quản lý sự biến động cho thuê đối với các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng nêu trên, còn các đối tượng khác (như cho thuê nhà riêng lẻ, …) nhà nước không cần thiết phải quản lý biến động vì có quá nhiều phát sinh và cũng để tránh phiền hà người dân, giảm thiểu thủ tục hành chính nên Bộ TN&MT không có hướng dẫn chi tiết về việc này, nghĩa là trước mắt người dân có nhà cho thuê không phải làm thủ tục đăng ký biến động?
Không biết nhận thức nào mới đúng, mong giúp đỡ.
Sở TNMT tỉnh Hòa Bình trả lời:
Điều 95 Luật Đất đai 2013 quy định về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:
“1. Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý, đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu.
2. Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký lần đầu và đăng ký biến động, được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơ quan quản lý đất đai, bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử và có giá trị pháp lý như nhau.
....
4. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất"
Điều 17 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định: “ Các trường hợp xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp khi đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất
.... đ) Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao thực hiện đăng ký cho thuê, thuê lại đất; xóa đăng ký cho thuê, cho thuê lại đất..."
Điểm b khoản 2 Điều 20 Thông tư số 23/2014/ TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định các trường hợp biến động ghi vào Trang bổ sung Giấy chứng nhận trong đó có trường hợp “cho thuê, thuê lại đất hoặc xóa cho thuê, cho thuê lại đất của doanh nghiệp đầu tư hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, , khu công nghệ cao, khu kinh tế;”
Như vậy, căn cứ vào Điều 95 Luật Đất đai thì các trường hợp biến động đều phải đăng ký biến động theo quy định; điểm đ Điều 17 và điểm b Điều 20 Thông tư số 23/2014/ TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định cụ thể về việc xác nhận khi đăng ký biến động khi đăng ký cho thuê, thuê lại đất; xóa đăng ký cho thuê, cho thuê lại đất đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, , khu công nghệ cao, khu kinh tế. Luật Đất đai và Thông tư hướng dẫn không mâu thuẫn với nhau.
Câu 27: Giải quyết khiếu nại đất đai
1. Khi Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai giữa 02 hộ A và hộ B. Nếu không đồng ý, hộ A khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Thì lúc này:
- Thời hiệu để hộ A thực hiện quyền khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh là bao nhiêu ngày? Căn cứ quy định nào?
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh sẽ giải quyết theo trình tự, thủ tục khiếu nại hay tranh chấp?
- Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là Quyết định giải quyết khiếu nại hay Quyết định giải quyết tranh chấp?
2. Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp nào?
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
1. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định hành chính được quy định tại Điều 9 và Điều 33 của Luật Khiếu nại năm 2011.
Pháp luật đất đai hiện hành chưa có quy định về thời hiệu khiếu nại đối với quyết định giải quyết tranh chấp. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp thu để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai, cụ thể đã đưa nội dung này vào dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (đã trình Chính phủ để ký ban hành).
2.Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND cấp tỉnh được quy định tại Điều 89 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ. Theo quy định tại Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013, Quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp này là quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.
3. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định tại điểm b, Khoản 3, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
Câu 28: Khung Cơ sở dữ liệu TNMT biển và hải đảo
Chúng tôi được UBND tỉnh giao thực hiện triển khai Thông tư 20/TT-BTNMT của Bộ TN&MT về Xây dựng, khai thác và sử dụng TNMT biển và hải đảo, trong đó có quy định csdl phải xây dựng theo Khung
csdl TNMT biển và hải đảo. Nhưng tôi tìm hiểu không thấy khung csdl TNMT biển và hải đảo được quy định tại đâu? Bộ TNMT đã có khung csdl TNMT biển và hải đao chưa?
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
Thông tư 20/2016/TT-BTNMT ngày 25/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu (CSDL) tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Thông tin, dữ liệu về tài nguyên và môi trường biển - hải đảo rất phức tạp, đa ngành, đa lĩnh vực, đa dạng, phạm vi lớn gồm đầy đủ thông tin, dữ liệu về tài nguyên và môi trường vùng ven bờ và vùng biển; các loại dữ liệu gồm các loại thông tin có cấu trúc, phi cấu trúc và hỗn hợp. Nhằm chuẩn hóa thông tin, bảo đảm tích hợp dữ liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành và các địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang nghiên cứu xay dựng Khung CSDL để ban hành trong thời gian tới. Tuy nhiên, để chủ động trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng CSDL của từng địa phương, cần lưu ý:
- Quá trinh xây dựng CSDL tài nguyên môi trường biển và hải đảo hình thành từng bước qua các công tác quan trắc, điều tra, đo đạc.. của nhiều ngành, lĩnh vực. Vì vậy các đơn vị liên quan cần chủ động áp dụng các tiêu chuẩn do Nhà nước đã ban hành chuẩn thông tin, dữ liệu liên quan như: Thông tư 22/2013/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về Danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước và các lĩnh vực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định về chuẩn thông tin (VD: thống tin đại lý, thông tin đất đai..) để xây dựng CSDL phục vụ quản lý Nhà nước, phát triển KT-XH, người dân và doanh nghiệp.
- Khi Bộ Tài nguyên và Môi trường hoàn thành Khung CSDL sẽ áp dụng, chuẩn hóa lại CSDL để bảo đảm khả năng tích hợp chung đối với CSDL tài nguyên môi trường biển và hải đảo quốc gia, phục vụ công bố, công khai, chia sẻ dùng chung.
Câu 29: Điều kiện tách thửa đất
Ba Mẹ tôi có một miếng đất nông nghiệp 1.200 m2 trên địa bàn thành phố Biên Hòa, nay được quy hoạch là đất ở. Tuy nhiên, khi Ba Mẹ Tôi tách miếng đất này cho 4 người con thì cán bộ địa chính hướng dẫn phải chuyển mục đích sử dụng đất mới được tách. Do số tiền chuyển mục đích quá lớn nên tôi không có tiền để chuyển mục đích. Vậy tôi muốn hỏi việc chuyển mục đích hết toàn bộ 1.200 m2 sang đất ở thì có đúng quy định không? Quý cơ quan có thể xem xét sửa đổi quy định không phải chuyển mục đích sử dụng đất khi tách thửa không.
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
Luật đất đai năm 2013 không có quy định khi thực hiện tách thửa đất phải chuyển mục đích sử dụng đất.
Căn cứ quy định tại các Điều 143, 144 Luật Đất đai năm 2013 thì UBND cấp tỉnh quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở tại nông thôn và đô thị; Luật Đất đai hiện hành chưa có quy định diện tích tách thửa tối thiểu đối với các loại đất khác ngoài 2 loại đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị, do đó, Ông (bà) được tách thửa đối với diện tích đất nông nghiệp mà gia đình đang có.
Hiện nay, việc quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất khác (ngoài đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị) đang được Bộ TNMT dự thảo tại Nghị định sửa đổi các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, hiện đang trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Câu 30: Tro xỉ, bùn thải có phải là chất thải nguy hại?
Theo Danh mục chi tiết của các CTNH và các chất thải có khả năng là CTNH ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015, thì tro xỉ không phải là CTNH, nhưng theo QCVN 02:
2012/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế) thì tro xỉ, bụi, bùn thải và các chất thải rắn khác phát sinh từ quá trình vận hành lò đốt CTRYT có khả năng là CTNH và bắt buộc phải phân định, phân loại theo QCVN 07:2009/BTNMT để có biện pháp quản lý phù hợp. Vậy, tro xỉ và bùn thải từ hệ thống xử lý khí thải lò đốt chất thải rắn y tế nếu lấy mẫu phân tích thì phân tích những thông số ô nhiễm nào tại QCVN 07:2009/BTNMT.
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời :
Theo quy định của Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015, tro xỉ và bùn thải từ hệ thống xử lý khí thải của lò đốt chất thải y tế là loại chất thải có khả năng là CTNH (mã *), cần phải được lấy mẫu và phân định thành phần nguy hại theo QCVN 07: 2009/BTNMT để có biện pháp quản lý phù hợp. Đối với việc lựa chọn tính chất và thành phần nguy hại để phân tích: Theo quy định tại Mục 3.4 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT về ngưỡng chất thải nguy hại, việc lấy mẫu phân tích trước hết được thực hiện với tính chất nguy hại. Nếu kết quả cho thấy chất thải không có các tính chất dễ cháy, kiềm hoặc axit thì chuyển sang phân tích các thành phần vô cơ. Việc phân tích không nhất thiết phải phân tích tất cả các thành phần vô cơ mà cần căn cứ vào đặc điểm nguồn thải, tính chất nguyên vật liệu, nhiên liệu, quá trình sản xuất ... để phân tích. Trường hợp xác định không có các thành phần vô cơ vượt ngưỡng thì mới tiến hành phân tích các thành phần hữu cơ. Do vậy, đối với bụi và tro xỉ lò đốt, trường hợp đã xác định được các thành phần hữu cơ đã bị tiêu hủy hoàn toàn trong quá trình đốt thì chỉ cần phân tích các tính chất và thành phần vô cơ theo quy định để phân định chất thải nguy hại. Riêng đối với bùn thải phát sinh từ quá trình xử lý khí thải của lò đốt chất thải thì cần xem xét phân tích thêm các thông số hữu cơ có thể có trong bùn thải để xác định cho phù hợp.
Câu 31: Tính thu tiền sử dụng đất
Diện tích đất ở do nhận chuyển nhượng, tặng cho có được tính vào diện tích đất trong hạn mức khi tính thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 3 nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thu tiền sử dụng đất không? ví dụ:
ông A nhận chuyển nhượng 500 m2 đất trong đó có 200 m2 đất ở và 300 m2 đất vườn liền kề và đã được cấp GCNQSD đất. Hạn mức giao đất ở khu vực này là 200 m2, ông A không còn mảnh đất nào khác (hoặc đất đang sử dụng toàn bộ do nhận chuyển nhượng). khi ông A được nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 100 m2 đất vườn liền kề sang đất ở thì diện tích 100 m2 này được tính là trong hay ngoài hạn mức?
Sở TNMT tỉnh Sơn La trả lời:
- Tại Điểm a Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP đã quy định:
“...Việc xác định diện tích đất trong hạn mức tại Điểm này phải đảm bảo nguyên tắc mỗi hộ gia đình (bao gồm cả hộ gia đình hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật), cá nhân chỉ được xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở một lần và trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
...Hộ gia đình, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai diện tích thửa đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở được áp dụng tính thu tiền sử dụng đất; nếu bị phát hiện kê khai gian lận sẽ bị truy thu nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế”.
- Tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 76/2014/TT- BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất đã quy định:
“3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận thừa kế quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp mà không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, nay được cấp đổi Giấy chứng nhận thì không được tính là một lần đã xác định diện tích đất trong hạn mức để tính thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP...”.
Theo quy định trên, khi được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 100 m2 đất vườn sang đất ở thì diện tích đất này được tính là diện tích đất trong hạn mức hạn mức đất ở.