Ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ trái đất

Một phần của tài liệu Chuyên Đề Thực Tập Đặc Trưng Của Hệ Thống Kinh Tế Đặc Trưng Nào Quan Trọng Nhất Đặc Trưng Nào Quan Trọng Nhất.docx (Trang 27 - 37)

Hiện nay các nhà khoa học đang tiến hành những thử nghiệm mới như quá trình can thiệp kỹ thuật địa chất hay kỹ thuật phong bế mặt trời... nhằm giảm hiệu ứng nhà kính; kỹ thuật phát tán các hạt sulfate vào không khí để nó thực hiện quá trình làm lạnh bầu khí quyển như quá trình phun nhan thạch của núi lửa, hoặc lắp đặt hàng triệu tấm gương nhỏ để làm chệch ánh sáng mặt trời cho tới việc bao phủ vỏ trái đất bằng các màng phản chiếu để khúc xạ trở lại ánh sáng mặt trời, tạo ra các đại dương có chứa sắt và các giải pháp tăng cường dưỡng chất giúp cây trồng hấp thụ nhiều CO2 hơn...

11. Chính phủ các nước có thể thiết lập giới hạn phát thải, nhưng cần tập trung vào đối tượng chính là ngành công nghiệp, các doanh nghiệp, chính quyền địa phương, và các hộ gia đình. Đồng thời, các biện pháp đưa ra phải đảm bảo giảm được lượng khí thải, ổn định nồng độ KNK, ngừng tăng nhiệt độ và hạn chế BĐKH.

12. Tuyên truyền, giáo dục và có luật pháp trừng phạt thích đáng đối với những người chặt phá rừng, xả rác bừa bãi, hủy hoại nguồn tài nguyên...

Liên hệ Việt Nam:

Một số quốc gia như Thụy Điển, Xin-ga-po… là những đất nước có môi trường xanh-sạch- đẹp nhất thế giới. Chúng ta  nên học tập và làm mô hình để áp dụng cho những nơi ở Việt Nam bị ô nhiễm.

Việt Nam và một số nước đang phát triển khác, vấn đề ô nhiễm môi trường đã dẫn đến sự biến đổi khí hậu như hiện nay. Con người chúng ta cần phải nhận thức, thực hiện các giải pháp trên một cách đồng bộ, thường xuyên và ở mọi nơi mọi lúc nhằm khắc phục hậu quả nghiệm trọng của biến đổi khí hậu. Hãy chung tay báo vệ Trái Đất và cùng hô ta khẩu hiệu ‘’ Vì một Trái Đất hoàn toàn không có sự ô nhiễm’’ . Tạo ra một môi trường sống trong lành xanh-sạch-đẹp lâu dài cho con người và cả mọi sinh vật trên Trái Đất

Câu 13: Nêu các cuộc khủng hoảng toàn cầu có thể xảy ra hiện nay?

-Có các loại khủng hoàng toàn cầu : khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực và khủng hoảng tài chính.

- KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH:

+Thế giới đã và đang sắp phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Về khái niệm: Khủng hoảng tài chính là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính

Các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính : Sự mất giá của các đồng tiền quốc gia, nợ nước ngoài mất khả năng thanh toán (nợ ngắn hạn), gia tăng lạm phát. Thị trường BĐS và chứng khoán suy sụp. Phá sản và thất nghiệp gia tăng. Sản xuất đình trệ, tăng trưởng giảm sút. Đầu tư phát triển không kiểm soát được

Diễn biến và nguyên nhân:

Nền kinh tế toàn cầu sẽ không thể phục hồi trong tương lai gần. Lý do được cho là nằm trong những vấn đề vẫn chưa được giải quyết triệt để trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, sự mong manh dễ vỡ vẫn còn đó. Ví dụ như ngân hàng ngầm (ngân hàng được trang bị bằng những thiết bị công nghệ mới) vẫn còn tồn tại, nợ cao, thiếu cải cách về mặt cấu trúc và tính bền vững trong các thị trường mới nổi, những cải cách mà ngân hàng trung ương đã thông qua nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng năm 2008 là vẫn chưa đủ để khôi phục nền kinh tế toàn cầu. Môi trường kém lành mạnh cũng khiến những cải cách về mặt cấu trúc bị trì hoãn và kỷ luật thị trường bị vi phạm...

Gần đây, những biến động trong thị trường chứng khoán là minh chứng rõ nhất về những tác động xấu của ngân hàng ngầm. Đây cũng chính là mối quan tâm của Mỹ và châu Âu. Trong vòng vài tuần từ đầu năm 2016, chỉ số thị trường chứng khoán Pháp CAC 40 mất tới 11,25%

(tính đến ngày 16/2) và xuống dưới ngưỡng 4000 điểm (mức thấp nhất kể từ mùa Hè năm 2013

Trong bối cảnh TQ liên tục trải qua nhiều cú sốc với 2 cú sập sàn chứng khoán ngay trong tuần đầu năm mới, tổng cộng đã mất khoảng 15%, TTCK Mỹ cũng chứng kiến 4 phiên đầu năm giảm điểm chưa từng có trong lịch sử. TTCK toàn cầu mất hơn 2 ngàn tỷ đồng. Giá dầu có lúc xuống mức thấp nhất 12 năm, sát tới 32 USD/thùng.

Năm 2016 được bắt đầu bởi các “cơn bão” nhiễu loạn trên các thị trường. Những biến động mạnh mẽ có thể gây nguy hiểm cho sự phục hồi vốn còn chậm chạp trên thế giới. Tình hình lạm phát thấp, triển vọng xấu của nền kinh tế Trung Quốc, khủng hoảng giá dầu quá thấp, mối đe dọa của “chiến tranh tiền tệ” là những mối quan tâm, lo ngại đối với tương lai. Khu vực đồng euro (Eurozone) vẫn là một mắt xích yếu trong tiến trình hồi phục của thế giới dù được Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ra sức hỗ trợ thông qua các chính sách tiền tệ nới lỏng mạnh mẽ.Nguy cơ phá sản các ngân hàng

Các lãnh đạo G7 vừa thể hiện lo ngại về nền kinh tế mới nổi trong ngày đầu Hội nghị Thượng đỉnh G7. Đặc biệt, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cảnh báo về sự tái xuất của cuộc khủng hoảng cách đây tám năm.Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trình bày số liệu cho thấy giá cả các loại hàng hóa giảm 55% kể từ tháng 6.2014 đến tháng 1.2016, trùng khớp với tỷ lệ đã từng xuất hiện trong giai đoạn tháng 7.2008 đến tháng 2.2009, giữa cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Ông Abe cho hay đây là “lời cảnh báo về sự xuất hiện của một cuộc khủng hoảng có quy mô như của ngân hàng Lehman”. 

Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn với đài CNBC, Donald Trump đã phá vỡ quan niệm khuôn sáo nặng nề về núi nợ của chính phủ liên bang, với phát ngôn gây sốc: “Tôi là vua nợ. Tôi thích nợ và thích chơi đùa với nợ”Tuy nhiên, mối nguy hại đằng sau quan điểm đó của Trump, ứng viên đang chạy đua quyết liệt cho vị trí Tổng Thống Mỹ, chính là khả năng chính phủ liên bang sẽ rơi vào tình trạng phá sản và chắc chắc điều này sẽ “thiêu đốt” nền kinh tế thế giới.

“Tôi sẽ vay nợ, vì rằng tôi biết rằng nếu nền kinh tế sụp đổ, bạn có thể kiếm lời”, Trump nói. “Và nếu nền kinh tế tốt, thì mọi thứ vẫn tốt. Do đó, bạn không phải chịu mất mát”.

Với tuyên bố này, Trump không chỉ cho thấy một sự thờ ơ đầy nguy hại đối với hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc gia và trật tự kinh tế toàn cầu, mà còn trở thành một trường hợp nghiên cứu điển hình về rủi ro của việc áp lực tư duy kinh doanh tư nhân vào điều hành chính phủ.

-KHỦNG HOẢNG LƯƠNG THƯC:

Các nhà nghiên cứu thuộc Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) cho biết, tính đến 2015, khoảng 800 triệu người trên thế giới đang bị suy dinh dưỡng, đồng nghĩa với việc họ không thể đáp ứng nhu cầu năng lượng trong khẩu phần ăn tối thiểu hàng ngày.

Với tình hình dân số toàn cầu có thể sẽ tăng từ 7 tỷ lên đến 9 tỷ người vào năm 2050, sản lượng lương thực theo đó sẽ phải tăng thậm chí còn phải nhanh hơn tốc độ tăng dân số để tất cả mọi người trên thế giới đều được đủ ăn.

Thế giới đang đứng trước một cuộc khủng hoảng lương thực trầm trọng. Cuộc khủng hoảng này trầm trọng đến nỗi Ngân hàng Thế giới (WB) và Liên hiệp Quốc cho biết sẽ không có đủ lương thực để nuôi sống người dân thế giới vào năm 2050 khi dân số tăng từ mức 7 tỉ người hiện tại lên mức 9 tỉ người.

Các nhà đầu tư Trung Quốc mua đất canh tác tại 33 nước (nước nhập khẩu) trong khi

Ethiopia bán đất cho nhà đầu tư ở 21 nước (nước xuất khẩu)

Một số tổ chức còn đưa ra mức dự báo sớm hơn. Global Harvest Initiative (GHI), một tổ chức nông nghiệp khu vực tư nhân, chẳng hạn, dự báo cuộc khủng hoảng sẽ diễn ra vào năm 2030, tức chỉ còn 15 năm nữa, nếu tốc độ sản xuất lương thực vẫn giữ như hiện nay.

Với tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp hiện tại ở Ấn Độ, sản xuất trong nước sẽ chỉ có thể đáp ứng 59% nhu cầu lương thực của nước này vào năm 2030. Tại các nước Đông Á, con số này là 67%, nếu tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp vẫn giữ như mức hiện tại. Ở khu vực châu Phi hạ Sahara dự kiến chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu lương thực vào năm 2030.

Theo WB, để tránh tình trạng thiếu hụt lương thực vào năm 2050, cộng đồng thế giới cần sản xuất ra thêm ít nhất 50% lương thực hơn so với mức hiện tại.

Điều khiến cho tình trạng khan hiếm lương thực càng trầm trọng hơn là chế độ ăn uống của thế giới chỉ dựa vào một số loại, dẫn đến nguồn cung thế giới phải phó mặc cho sự xoay vần của lạm phát, côn trùng, dịch bệnh và thời tiết xấu. Một yếu tố khác góp phần vào sự khan hiếm lương thực là vì chúng được sử dụng vào việc sản xuất ra nhiên liệu và việc này đang xuất hiện ngày càng nhiều

Chủ tịch Viện Chính sách Trái Đất cảnh báo rằng nước dành cho việc sản xuất lương thực ở Trung Quốc và Ấn Độ có nguy cơ cạn kiệt khi hiện tượng ấm lên toàn cầu khiến cho các sông băng tan chảy. Trong bối cảnh hiện nay, những sông băng đang tan chảy ở châu Á là mối đe dọa khủng khiếp nhất đối với nông nghiệp toàn cầu

-KHỦNG HOẢNG NĂNG LƯỢNG:

đến năm 2035, dự báo nhu cầu về năng lượng toàn cầu dự kiến sẽ tăng tới hơn một phần ba, với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Trung Đông sẽ chiếm tới hơn 60% số gia tăng này. Năm 2010, hơn 66 tỷ mét khối nước sạch đã được dùng để tạo ra điện năng. Đến năm 2035, con số này có thể sẽ tăng thêm khoảng 85%.

Các nguồn năng lượng tái sinh như năng lượng mặt trời và năng lượng gió cũng đã bắt đầu gây được sự chú ý. Các nguồn năng lượng này đã chiếm khoảng một phần năm lượng sản lượng điện năng toàn cầu năm 2011.

Tuy nhiên, các nguồn năng lượng sạch này sẽ không thể có sự phát triển mạnh mẽ nếu các nguồn nhiên liệu hóa thạch tiếp tục nhận được các khoản trợ cấp khổng lồ. Bản báo cáo của LHQ dẫn số liệu của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết, trong năm 2011, dầu, khí đốt và than đã được trợ cấp 523 tỷ USD, tăng gần 30% so với năm 201. Trong khi đó, các nguồn năng lượng tái sinh chỉ được trợ cấp 88 tỷ USD.

Cũng theo bản báo cáo, châu Phi, Mỹ Latin và Caribbe có rất nhiều tiềm năng về thủy điện.

Tuy nhiên, mặc dù các dự án thủy điện có thể tạo ra hàng gigawatts điện năng và tái sử dụng nguồn nước quý giá, nhưng nhiều người lo ngại rằng chúng có thể gây nguy hại cho các hệ sinh thái.

Ngoài ra còn có các cuộc khủng hoảng như:

Khủng hoảng rác thải toàn cầu: Các chuyên gia WB ước tính đến năm 2025, tổng khối lượng rác cư dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm - tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểm hiện tại.

Khủng hoảng nước :vào cuối năm 2014,  liên hợp quốc cho biết, hiện đã có 768 triệu người không được tiếp cận các nguồn nước sạch, an toàn, 2,5 tỷ người không được bảo đảm các điều kiện vệ sinh phù hợp và hơn 1,3 tỷ người không được tiếp cận lưới điện sinh hoạt. Cho đến nay, đã có khoảng 20% mỏ nước ngầm của thế giới bị cạn kiệt. Nông nghiệp chiếm tới hơn hai phần ba số lượng nước được sử dụng trên thế giới.

Dự báo về tương lai theo đó nhu cầu về nước trên toàn cầu có thể sẽ tăng khoảng 55% vào năm 2050. Tới thời điểm đó, hơn 40% dân số thế giới sẽ phải sống trong những khu vực thiếu nước “nghiêm trọng”, phần lớn là ở Bắc Mỹ và Trung Đông cho tới Nam Á. Châu Á cũng sẽ là điểm nóng lớn nhất về các vụ xung đột chung quanh việc khai thác nước, nơi các nguồn nước nằm vắt qua các đường biên giới quốc gia.

 ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM:

Các vấn đề chính

    Trong ngắn hạn, ảnh hưởng trực tiếp của khủng hoảng toàn cầu đối với Việt Nam không lớn:

    * Việt Nam chịu tác động gián tiếp hơn tác động trực tiếp, do hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa có nhiều hoạt động giao thương trực tiếp với các trung tâm tài chính và các luồng chuyển dịch tiền thế giới.

    * Tốc độ tăng trưởng GDP có thể chậm ở mức 5,5 - 6%.

    * Dòng vốn đầu tư vào chứng khoán sẽ còn nhiều hạn chế.

    * Tác động tâm lý đối với TTCK trong nước: VN-Index đã giảm xuống mức thấp mới 322 điểm vào ngày 28/10, dưới mức 366 điểm (mức thấp cũ của tháng 6/2008).

    * Thị trường trái phiếu sẽ có lợi.

    * Ảnh hưởng đối với thị trường xuất khẩu có thể không sâu sắc do hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam rẻ hơn, thay thế hàng hóa xuất khẩu đắt hơn từ các nước Đông Á. Tuy nhiên, các chỉ tiêu dự đoán xuất khẩu và nhập khẩu nên được xem xét lại, giảm đi khoảng 10 - 15%, dựa trên căn bản là tốc độ tăng trưởng GDP toàn thế giới giảm và giá dầu giảm.

    Nhưng xét về mặt dài hạn, những tác động này có thể trở nên sâu rộng hơn:

    * Nếu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu kéo dài và dữ dội hơn, Việt Nam cũng sẽ chịu những ảnh hưởng kinh tế và tài chính khó lường trước.

    * Cuộc khủng hoảng hiện nay có thể biến thành một sự vỡ vụn tín dụng nghiêm trọng của nền kinh tế Mỹ, nơi mà: các ngân hàng lo sợ không dám cho các ngân hàng khác vay do chưa xác định được rõ rủi ro tín dụng trong bản thân các ngân hàng này; thanh khoản giữa các ngân hàng thấp dẫn đến ít hoạt động cho vay doanh nghiệp và cho vay hộ gia đình (như cho vay mua nhà hay cho vay tiêu dùng).

    * Những vấn đề trên sẽ gây ra áp lực giảm phát đối với nền kinh tế thế giới khi giá các hàng hóa tiếp tục giảm. Những nền kinh tế mới nổi phát triển dựa trên giá cả hàng hóa tăng vọt sẽ phải gánh chịu giảm phát, đặc biệt nếu tích lũy tiết kiệm của những nước đó bị hạn chế; nhu cầu tiêu dùng của Mỹ giảm sẽ tác động xấu đến các nước chú trọng đến xuất khẩu (ví dụ các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam).

    Để giảm bớt tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam nên có chiến lược tồn tại bằng cách củng cố dòng tiền mặt. Các doanh nghiệp cũng nên định hướng xuất khẩu sang các thị trường mới ở Trung Đông và ASEAN cũng như thị trường nội địa. Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cần rút ra những bài học kinh nghiệm từ một loạt các sự kiện gần đây.

    * Chúng ta cần ngăn chặn một cuộc khủng hoảng ngân hàng liên quan đến các khoản cho vay bất động sản xấu. Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải được tiến hành nghiêm khắc và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nên sẵn sàng bơm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng khi cần thiết và có kế hoạch sáp nhập những ngân hàng yếu vào những ngân hàng mạnh.

    * NHNN nên có kế hoạch bảo hiểm các khoản tiền gửi ngân hàng.

    * Trong trường hợp khủng hoảng thế giới xấu đi, cơ quan quản lý cần kích thích tiêu dùng trong nước thông qua chính sách tín dụng mềm dẻo hơn. Việc NHNN cắt giảm lãi suất cơ bản cùng một số biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ khác là bước đi đúng hướng.

    * Cơ hội chủ yếu là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và tìm kiếm thị trường cũng như các nhà đầu tư mới từ Trung Đông.

Câu 14: 1 số vấn đề khó khăn VN đang gặp phải trong quá trình pt kinh tế ở TK 21?

Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Dân số phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn (khoảng 68 % - năm 2013) Tốc độ tăng dân số cao: sấp xỉ 1% trong những năm gần đây.

Tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao:

 Năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 14,2%. Các năm sau đó, tỷ lệ này đều giảm dần: năm 2011 giảm còn 11,76%; năm 2012 giảm còn 9,6%; năm 2013 giảm còn 7,8%; năm 2014 giảm còn 5,97%. Năm 2015, ước tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn dưới 5% theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015.

Chất lượng dân số thấp:

Tiềm lực vật chất của việt nam còn yếu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng nhể lực và tầm vóc của nguồn nhân lực còn hạn chế, kỹ năng , tay nghề không cao, chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, điều này khiến cho hệ thống phân công lao động quốc tế gặp nhiều bất cập. khó khăn này thể hiện ở chỗ năng lực tiếp cận khoa học công nghệ chủ yếu, khó phát huy lợi thế của nước đi sau trong việc tiếp cận các nguồn lực sẵn có từ bên ngoài để nâng cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật dẫn đến nguy cơ việt nam có thể trở thành “bãi rác” của các công nghệ lạc hậu. với quy mô vốn nhỏ như các doanh nghiệp vừa và nhỏ (dnvvn) thì khả năng nhập các công nghệ lạc hậu càng lớn.

Bất bình đẳng giới giữa nam và nữ còn cao:

chỉ khoảng 20% nữ giới được làm việc trong các cơ quan lập pháp, hành pháp cơ quan chín phủ..

Khả năng thu hút vốn đầu tư kém do nhiều rào cản phức tạp :

Nhiều cửa, nhiều quy định dẫn tới việc đăng kí 1 dự án nhiều thủ tục tốn thời gian. Cơ sở hạ tầng kém, chi phí sản xuất, đầu tư tăng, trình độ người lao động còn hạn chế.

Việt Nam xuất phát từ 1 nước nông nghiệp manh mún, lạc hậu, trình độ và năng suất lao động thấp, với dân số chủ yếu là làm nông nghiệp gây nên trở ngại rất lớn cho quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa..

Một phần của tài liệu Chuyên Đề Thực Tập Đặc Trưng Của Hệ Thống Kinh Tế Đặc Trưng Nào Quan Trọng Nhất Đặc Trưng Nào Quan Trọng Nhất.docx (Trang 27 - 37)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(37 trang)
w