Chẩn đoán chấn thương niệu đạo trước

Một phần của tài liệu 21 chấn thương hệ niệu sinh dục (Trang 21 - 24)

MỤC TIÊU BÀI GIẢNG

D. CHẤN THƯƠNG NIỆU ĐẠO

1.3. Chẩn đoán chấn thương niệu đạo trước

-Có tiền sử chấn thương vùng tầng sinh môn.

-Đau ,bí tiểu và có chảy máu niệu đạo.

-Bầm máu vùng tầng sinh môn, bộ phận sinh dục, vết bàm máu hình cánh bướu.

-X quang niệu đạo có cản quang (UCR, VCUG) có tổn thương niệu đạo.

Hình A: Chấn thương niệu đạo

dương vật ( do gãy thể hang) Hình B: di chứng hẹp niệu đạo tầng sinh môn do chấn thương

Để có thái độ điều trị thích hợp, cần thiết phải chẩn đoán cho được các thể thương tổn niệu đạo. Do vậy, về mặt nguyên tắc, tất cả các bệnh nhân nghi ngờ thương tổn niệu  đạo đều phải chụp niệu đạo ngược dòng. Tuy nhiên, do nguy cơ nhiễm khuẩn cũng như nguy cơ thông niệu đạo làm nặng thêm thương tổn, cho nên các triệu chứng lâm sàng trở nên rất có ý nghĩa để theo dõi và định hướng thái độ xử trí:

Bệnh nhân có bí tiểu hay không. Có cầu bàng quang hay không.

Chảy máu niệu đạo không tự cầm.

Tụ máu tầng sinh môn hình cánh bướm và lan rộng nhanh.

Có viêm tấy vùng tầng sinh môn trong trường hợp bệnh nhân đến muộn.

Đụng dập niệu đạo và vỡ niệu đạo một phần Thường bệnh nhân vẫn đái được tự nhiên.

Nước tiểu trong hoặc chảy máu niệu đạo thường tự cầm sau một thời gian (6 - 8 giờ).

Không can thiệp  gì. Theo dõi, dùng kháng sinh, giảm đau. Sau 1 tuần chụp niệu đạo kiểm tra và có thể nong niệu đạo nếu cần.

Bệnh nhân cần được theo dõi, tốt nhất là đo tốc độ dòng nước tiểu để phát hiện sớm hẹp niệu đạo. Việc theo dõi  nên kéo dài khoảng 2 năm.

Vỡ niệu đạo hoàn toàn

Thường bệnh nhân có cầu bàng  quang. Máu tụ tầng sinh môn, có thể lan ra bìu làm bìu sưng to.

1.4.1.Xử trí cấp cứu

Dẫn lưu bàng quang trên mu.

Trong trường hợp máu tụ tầng sinh môn nhiều, lan rộng thì cần thiết phải xẻ rộng tháo máu tụ.

1.4.2.Điều trị tiếp theo

Các tác giả cổ điển chủ trương dẫn lưu nước tiểu trên xương mu, sau đó vài tháng sẽ mổ để giải quyết niệu đạo. Hoặc có tác giả chủ trương mổ 1 thì ngay từ đầu, tuy nhiên trên thực tế không phải bao giờ kết quả cũng tốt vì khâu nối  niệu đạo ngay thì đầu có những nhược điểm:

-Đoạn niệu đạo bị dập nát, thấm máu và nước tiểu rất dễ bị nhiễm khuẩn.

-Điều kiện khâu  nối thì đầu không phải ở đâu, lúc nào cũng thuận lợi để thực hiện.

Chính vì vậy, đa số các tác giả hiện nay có chủ trương:

Thì 1: Xử trí cấp cứu

Thì 2: Mổ sớm sau 1-2 tuần khi đoạn niệu đạo vỡ bắt đầu lành, máu tụ tầng  sinh môn tan hết, khả năng nhiễm trùng không còn cao nữa. Có thể:

Ở một số bệnh nhân, vào giai đoạn này, nếu đi tiểu được tự nhiên thì tiến hành cặp dẫn lưu bàng quang trên xuơng mu, cho bệnh nhân đi tiểu tự nhiên, hoặc có thể đặt thông niệu đạo trong điều kiện vô trùng trong khoảng 2 tuần.

Ở những bệnh nhân khác, không đi tiểu tự nhiên được, tiến hành chụp niệu đạo ngược dòng hoặc kèm chụp bàng quang xuôi dòng để khảo sát đoạn niệu đạo hẹp. Nếu niệu đạo hẹp ngắn (< 1,5cm) thì tiến hành cắt nối tận - tận. Nếu đoạn hẹp dài (> 1,5cm) thì tiến hành mổ tái tạo niệu đạo 2 thì.

Thương tổn xuyên thủng

Thông thường, thương tổn nhỏ, có thể cho phép bệnh nhân đi tiểu tự nhiên hoặc đặt thông niệu đạo trong vòng vài ngày.

Trong trường hợp có kèm thương tổn trực tràng, cần dẫn lưu bàng quang trên mu trong vài  tuần. Sau đó chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng hoặc xuôi dòng, nếu thương tổn lành thì bệnh nhân được phép đi tiểu tự nhiên.

Cần chú ý đối với các thương tổn xuyên thủng do nguyên nhân từ bên ngoài,   thương tổn do dao sắc bén chỉ cần cắt lọc tối thiểu, đóng vết thương, dẫn lưu bàng quang trên mu 2-3  tuần . Sau đó chụp niệu đạo ngược dòng hoặc kèm xuôi dòng kiểm tra.

Các vết thương bẩn cần làm sạch bằng các dung dịch rửa và sát khuẩn.

Nếu cắt lọc nhiều, niệu đạo có thể bị mất  đoạn dài, trong trường hợp này nên mở  niệu đạo ra da. Dẫn lưu bàng quang trên mu được giữ cho đến lúc vết thương tầng sinh môn lành hẳn sẽ xử trí niệu đạo thì 2.

1.4.3.Theo dõi sau phẫu thuật

Các dẫn lưu nên được chăm sóc và rút đúng thời hạn

Nên sử dụng kháng sinh cho đến lúc các dẫn lưu được lấy bỏ.

Đo tốc độ dòng nước tiểu ít nhất 3 tháng/1 lần trong ít nhất 1 năm để phát hiện sớm hẹp niệu đạo.

Một phần của tài liệu 21 chấn thương hệ niệu sinh dục (Trang 21 - 24)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(37 trang)
w