Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.5. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIỆP VỤ SỬ DỤNG TRONG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.5.1. Nội dung của kế toán quản trị
Xác định nội dung của kế toán quản trị đang là một vấn đề phúc tạp và có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên khi xem xét nội dung của kế toán quản trị cần phải xem xét từ các yêu cầu cụ thể của nó đồng thời phải xem xét nó trong mối tương quan với kế toán tài chính để tránh trùng lặp và phát huy tác dụng tích cực của kế toán quản trị.
Theo thông tư số 53/2006/TT – BTC ngày 12 tháng 06 năm 2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp quy định thì nội dung chủ yếu, phổ biến của kế toán quản trị trong doanh nghiệp, gồm:
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm;
- Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh;
Xác định mục tiêu Chính thức hóa thành các chỉ
tiêu kinh tế
Lập kế hoạch Triển khai các bản dự toán
chung & dự toán chi tiết
Tổ chức thực hiện Thu thập kết quả thực hiện
Kiểm tra, đánh giá Soạn thảo các báo cáo thực
hiện
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
- Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định;
- Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;
- Kế toán quản trị một số khoản mục khác:
+ Kế toán quản trị tài sản cố định (TSCĐ);
+ Kế toán quản trị hàng tồn kho;
+ Kế toán quản trị lao động và tiền lương;
+ Kế toán quản trị các khoản nợ.
Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, doanh nghiệp có thể thực hiện các nội dung kế toán quản trị khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Còn nếu xuất phát từ yêu cầu, mục đích của kế toán quản trị có thể thấy các nội dung của kế toán quản trị như sau:
- Kế toán quản trị cung cấp thông tin một cách cụ thể, chi tiết theo yêu cầu quản lý của từng đơn vị. Thông tin kế toán quản trị cung cấp linh hoạt, theo yêu cầu của nhà quản trị, nó có thể là thông tin hoạt động của từng bộ phận hoặc của nhiều bộ phận, trong thời gian cũng rất linh hoạt một tháng, một quý hay có thể chỉ là một tuần, hai tuần từ đó dễ dàng so sánh với kỳ khác, đánh giá đồng thời có những chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời các hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Phân tích chi phí một cách chi tiết theo từng hoạt động kinh doanh bằng những phương pháp, nghiệp vụ cụ thể, hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, kiểm soát chi phí, tìm biện pháp quản lý chi phí có hiệu quả.
- Kế toán thu nhập kết quả theo từng hoạt động, từng địa điểm gắn liền với trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp.
- Cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán và chi tiêu theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Để xác định đúng đắn nội dung của kế toán quản trị các doanh nghiệp cần thực hiện các công việc sau đây:
- Xác định các chỉ tiêu cơ bản trong quản trị, căn cứ vào: Đặc điểm tổ chức quản lý; Trình độ quản lý; Yêu cầu quản lý cụ thể.
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường Ví dụ: đối với các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ, số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ít thì tổ chức mô hình kế toán quản trị và kế toán tài chính theo mô hình kết hợp. Theo đó các chuyên gia kế toán đồng thời đảm nhiệm hai nhiệm vụ:
thu nhận và xử lý thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị. Chính từ áp lực này, mà số lượng các chỉ tiêu cơ bản của kế toán quản trị ít đi, nó có thể chỉ là chỉ tiêu giá thành sản phẩm trong phân hành kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Ngược lại, đối với các doanh nghiệp lớn, kinh doanh đa ngành, đa nghề, lại cần tổ chức mô hình kế toán tách biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị. Theo đó, các chuyên gia kế toán quản trị và các chuyên gia kế toán tài chính độc lập với nhau. Các chuyên gia kế toán quản trị có thể nghiên cứu, theo dõi nhiều chỉ tiêu hơn.
Chẳng hạn như trong phần hành kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, các chỉ tiêu nghiên cứu có thể là giá thành của từng loại sản phẩm, giá thành của từng khâu trong quy trình sản xuất sản phẩm đó.
- Tuy nhiên, các chuyên gia kế toán quản trị cũng có thể thay đổi các chỉ tiêu này một cách linh hoạt tùy theo yêu cầu của nhà quản trị.
- Xác định các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán nhằm phối hợp, điều hòa giữa hai hệ thống kế toán, phục vụ cho yêu cầu kiểm soát, kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
- Xác định các thước đo sử dụng, hệ thống sổ và báo cáo kế toán quản trị phục vụ cho yêu cầu báo cáo nhanh, báo cáo định kỳ theo từng chỉ tiêu cụ thể.
1.5.2. Phương pháp nghiệp vụ sử dụng trong kế toán quản trị
Thông tin mà kế toán quản trị thu thập được thường thông qua nhiều thước đo khác nhau như hiện vật, giá trị, thời gian, … Để xử lý những thông tin này phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh, ngoài các phương pháp truyền thống kế toán quản trị còn phải sử dụng đến các phương pháp đặc trưng để đảm bảo cho các quyết định kinh doanh tối ưu.
❖ Các phương pháp truyền thống
- Phương pháp chứng từ: Chứng từ là bằng chứng để ghi nhận thông tin kế toán
quản trị ngay từ ban đầu nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Chứng từ ghi nhận ban đầu của kế toán tài chính và kế toán quản trị khá giống nhau song có điểm khác biệt do xuất phát từ mục tiêu của 2 phân hệ kế toán: chứng từ kế toán quản trị yêu cầu cao về tính có thật của nghiệp vụ trong khi chứng từ kế toán tài chính lại ưu tiên tính pháp lý của nghiệp vụ phát sinh.
- Phương pháp tài khoản kế toán: Tài khoản kế toán quản trị được mở xuất phát từ nhu cầu quản trị nội bộ của đơn vị.
Ví dụ: Tài khoản doanh thu, có thể mở theo nhiều tiêu thức khác nhau như sản phẩm, địa điểm, thời gian, nhóm mặt hàng, thị trường…
- Phương pháp tính giá: kế toán quản trị sử dụng nhiều phương pháp tính giá khác nhau nhằm phản ánh chính xác đối tượng chịu chi phí để đưa ra quyết định cho các phương án trong tương lai. (Kế toán tài chính: hướng tới xác định giá trị thực tế hàng tồn kho, chi phí cho mục tiêu quyết toán thuế TNDN và các đối tượng bên ngoài quan tâm cho các hoạt động kinh doanh đã xảy ra)
- Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán: kế toán quản trị có hệ thống báo cáo kế toán rất đa dạng và phong phú xuất phát từ đặc điểm kinh doanh của đơn vị và nhu cầu quản trị của từng cấp.
❖ Các phương pháp đặc trưng của kế toán quản trị: 4 phương pháp chính - Phương pháp thiết kế thông tin thành dạng so sánh được: Thông tin muốn có ý nghĩa thì phải có các tiêu chuẩn để so sánh với nó. Kế toán quản trị sẽ phân tích và thiết kế chúng thành dạng so sánh được. Nhà quản trị phải dựa vào sự so sánh này để đánh giá và ra quyết định.
- Phương pháp phân loại chi phí: đây là một phương pháp vô cùng cần thiết trong kế toán quản trị bởi tầm quan trọng của nhiệm vụ kiểm soát chi phí. Kế toán quản trị phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau nhằm tạo lập các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ứng xử từng loại chi phí sao cho tối ưu.
Phương pháp phân loại chi phí thành biến phí và định phí giúp các nhà quản trị
Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường dự đoán mức chi phí xảy ra, đồng thời để kiểm soát các khoản chi phí phát sinh. Đây là phương pháp thường dùng để làm căn cứ phân tích mối quan hệ chi phí (Cost) – Khối lượng (Volume) – Lợi nhuận (Profit)
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các cách phân loại chi phí khác như: theo chức năng hoạt động (CP sản xuất – CP ngoài SX); chi phí thời kỳ & chi phí sản phẩm…
- Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin dưới dạng phương trình: phương pháp này rất thuận tiện cho việc tính và dự toán một số quá trình sản xuất chưa xảy ra nhằm để phân tích và dự toán chi phí sản xuất.
- Trình bày thông tin dưới dạng đồ thị: đây là cách thể hiện dễ thấy nhất và khá chính xác cho thấy được mối quan hệ và xu hướng biến động của các thông tin kế toán do kế toán quản trị cung cấp và xử lý. Từ đó các nhà quản trị thấy ngay được xu hướng biến động của từng bộ phận mà đưa ra các thông tin ứng xử ngay từng hoạt động.
Chương II