Các cách phân loại khác nhằm mục đích ra quyết định

Một phần của tài liệu Bài Giảng Kế Toán Quản Trị (Trang 53 - 57)

Chương II: PHÂN LOẠI CHI PHÍ

2.2. PHÂN LOẠI CHI PHÍ

2.3.4. Các cách phân loại khác nhằm mục đích ra quyết định

2.3.4.1. Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và đối tượng chịu chi phí, chi phí được chia thành 2 dạng: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

Chi phí trực tiếp: là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất một sản phẩm, một công việc, một lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và hoàn toàn có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho một sản phẩm, công việc, lao vụ đó.

Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc, lao vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối tượng bằng phương pháp phân bổ gián tiếp. Độ chính xác của chi phí gián tiếp cần phân bổ phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ. Tiêu thức phân bổ phải lựa chọn cho phù hợp và phải đảm bảo các yêu cầu như: thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả kỳ hạch toán, có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ.

Thông thường, khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp là các khoản mục chi phí trực tiếp vì chúng được tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí – các sản phẩm hoặc đơn đặt hàng, còn các khoản mục chi phí sản xuất chung, chi phí quảng cáo, tiếp thị và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí gián tiếp.

Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí.

2.3.4.2. Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và mức độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị, chi phí được chia thành 2 dạng: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó có thẩm quyền ra quyết định. Ví dụ : người giám đốc chi nhánh có trách nhiệm trong việc tuyển dụng cũng như quyết định cách thức trả lương cho nhân viên bán hàng làm việc tại khu vực đó, do vậy chi phí tiền lương trả cho bộ phận nhân viên này là chi phí kiểm soát được đối với chi nhánh đó. Tương tự như vậy là các khoản chi phí tiếp khách, chi phí hoa hồng bán hàng, ... Tuy nhiên, chi phí khấu hao các phương tiện kho hàng, một khoản chi phí cũng phát sinh ở bộ phận bán hàng, thì lại là chi phí không kiểm soát được đối với người quản lý bán hàng bởi vì quyền quyết định xây dựng các kho hàng cũng như quyết định cách thức tính khấu hao của nó thuộc về bộ phận quản lý doanh nghiệp.

Cũng cần chú ý thêm rằng việc xem xét khả năng kiểm soát các loại chi phí đối với một cấp quản lý có tính tương đối và có thể có sự thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ phân cấp trong quản lý.

Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát chỉ có ý nghĩa thực tế khi đặt nó ở một phạm vi quản lý nào đó và được các nhà quản trị ứng dụng để lập báo cáo kết quả lãi (hoặc lỗ) của từng bộ phận trong doanh nghiệp. Từ đó góp phần thực hiện kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp.

2.3.4.3. Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với các quyết định kinh doanh, chi phí được chia thành nhiều dạng: Chi phí cơ hội; chi phí chênh lệch; chi phí chìm…

a. Chi phí cơ hội:

Chi phí cơ hội là những lợi ích tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện phương án và hành động này thay cho phương án hoặc hành động khác (Là phương án tối ưu nhất trong các phương án được chọn). Chẳng hạn, với quyết định tự sử dụng cửa hàng để tổ chức hoạt động kinh doanh với mức lãi khoảng 150.000.000/ năm thay

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường vì cho thuê thì thu nhập có được từ việc cho thuê của hàng với mức giá là 120.000.000/ năm trở thành chi phí cơ hội của phương án tự tổ chức kinh doanh.

Chi phí cơ hội là chi phí không được tập hợp và phản ánh trên sổ kế toán song lại là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý.

Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu. Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các phương án bị loại bỏ.

b. Chi phí chênh lệch

Khoản chi phí nào có ở phương án này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác thì được gọi là chi phí chênh lệch. Chi phí chênh lệch (cũng còn được gọi là chi phí khác biệt) cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu. Chi phí này có thể là định phí, biến phí hay chi phí hỗn hợp.

Có hai dạng chi phí chênh lệch:

- Giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác.

- Phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau.

Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định.

Ví dụ: Có tài liệu của 2 phương án A, B như sau:

Phương án A Phương án B Chênh lệch Số tiền % Số tiền %

Thu nhập 1000 100 850 100 150

Chi phí 800 80 670 78.9 130

Giá vốn hàng bán 550 55 470 55.3 80

Chi phí quảng cáo 30 3 20 2.4 10

Chi phí khấu hao 80 8 70 8.2 10

Chi phí quản lý 60 6 55 6.5 5

Chi phí vận chuyển 80 8 55 6.5 25

Lãi thuần 200 20 180 21.1 20

Qua bảng số liệu trên ta thấy, phương án A có doanh thu lớn hơn phương án B là 150 triệu đồng, song chi phí lại cao hơn 130 triệu đồng nên lãi thuần chỉ cao hơn 20 triệu đồng. Nếu mục tiêu của nhà quản trị là lợi nhuận cao, đồng thời các yếu tố về vốn, tư liệu sản xuất đầy đủ thì nên chọn phương án A. Tuy nhiên, nếu nhà quản trị gặp khó khăn trong việc đầu tư cho phương án A, thì nên chọn phương án B là phương án có tỷ suất sinh lời cao hơn 1,1%.

c. Chi phí chìm

Chi phí chìm là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và vẫn phải chịu dù cho có chọn phương án hành động nào.

Ví dụ 1: Chi phí nghiên cứu sản phẩm là chi phí chìm bởi dù có quyết định phương án sản xuất nào, hay không sản xuất, thì chi phí này là đã xảy ra và không thể thay đổi được.

Ví dụ 2: doanh nghiệp A định thuê chuyên gia tư vấn xây dựng hệ thống sản xuất dây phanh xe máy. Chi phí tư vấn đã trả là 50 triệu đồng. Vừa qua, trong cuộc họp, phó giám đốc đưa ra phương án mua dây chuyền hoàn thiện của Trung Quốc với giá là 200 triệu đồng bới chi phí xây dựng dự tính là quá cao 250 triệu đồng. Trong trường hợp này, chi phí thuê chuyên gia tư vấn 50 triệu đồng là chi phí chìm, bởi dù

Bài giảng Kế toán quản trị ƯVGV: Nguyễn Thị Hường có chọn phương án mua dây chuyền sản xuất của Trung Quốc hay tự xây dựng thì khoản tiền vẫn phải có – vì đã xảy ra. Trong trường hợp này, nếu dây chuyền sản xuất của Trung Quốc là tốt, năng suất và độ bền như tự xây dựng thì ta nên chọn phương án mua dây chuyền hoàn thiện bời chi phí đầu tư thấp hơn. Trong trường hợp các yếu tố năng suất, độ bền không đảm bảo thì nhà quản lý công ty A nên xem xét và lựa chọn phương án thích hợp cho đơn vị mình.

Chi phí chìm được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào. Chính vì vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý. Tuy nhiên, trong thực tế, việc nhận diện được chi phí chìm cũng như sự nhận thức rằng chi phí chìm cần được loại bỏ trong tiến trình ra quyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng. Vấn đề sẽ được minh hoạ rõ ở chương 7,8 với nội dung phân tích thông tin để ra quyết định.

Một phần của tài liệu Bài Giảng Kế Toán Quản Trị (Trang 53 - 57)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(186 trang)