Kết quả đào tạo bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu sô trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Một phần của tài liệu baocaothuctap 3 hoanchinh(1) (Trang 23 - 31)

1. Tổng quan về cơ quan thực tập

2.1 Lý do chọn đề tài “Đào tạo, dưỡng công chức là người dân tộc thiểu sô trên địa bàn tỉnh Gia Lai”

2.2.5. Kết quả đào tạo bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu sô trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức người dân tộc thiểu số giai đoạn 2013 – 2017

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số trong việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - chính trị và trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh, Đảng bộ và chính quyền các cấp ở địa phương đã quan tâm, tạo mọi điều kiện để tăng cường, phát triển đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số. Nhiều năm qua, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đặc biệt ưu tiên lựa chọn, cử đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số tại địa phương để tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, trong đó chú trọng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước và các kiến thức bổ trợ khác nhằm để nâng cao chất lượng đội ngũ này đáp ứng yêu cầu công tác hiện nay. Do vậy, chất lượng công tác của đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số được nâng lên một bước, góp phần hoàn thành nhiệm vụ được giao, từng bước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Tính từ năm 2013 đến 2017, tổng số cán bộ, công chức, viên chức nói chung toàn tỉnh tham gia đào tạo, bồi dưỡng là 29.479 lượt người, trong đó đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số là 2.522 lượt người (chiếm tỷ lệ 8,6%), cụ thể:

- Công chức cấp tỉnh: 374 lượt người, chiếm tỷ lệ 14,8%.

- Công chức cấp huyện: 660 lượt người, chiếm tỷ lệ 26,2%.

- Công chức cấp xã: 1.488 lượt người, chiếm tỷ lệ 59%.

Kết quả thống kê cho thấy đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số tham gia đào tạo, bồi dưỡng các ở các mặt trình độ như sau:

Về chuyên môn nghiệp vụ:

Bảng 1. Kết quả đào tạo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số:

SVTH: Ksor H’ Loan 23

Đơn vị tính: Lượt người

Năm Trình độ

Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung cấp

2013 2 51 10 87

2014 2 48 12 89

2015 1 31 12 74

2016 1 29 9 89

2017 0 25 9 124

Tổng 6 184 52 463

Theo số liệu nêu trên, việc đào tạo, bồi dưỡng từ năm 2013 đến năm 2017 đã đạt được một số kết quả khả quan: Trình độ Thạc sỹ có 06 lượt người, chiếm tỷ lệ 0,2%; Đại học là 184 lượt người, chiếm tỷ lệ 7,3%; Cao đẳng là 52 lượt người, chiếm tỷ lệ 2,1%;

Trung cấp 463 lượt người, chiếm tỷ lệ 18,4%.

Bên cạnh việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ nêu trên, hằng năm tỉnh Gia Lai còn cử học sinh người dân tộc thiểu số đi học đại học hệ cử tuyển tại các Trường Đại học Nông lâm, Y Dược, Kinh tế, Sư phạm..., cụ thể:

Năm 2013: cử 60 em (Y Dược: 40 em; Văn hóa 10 em; Nông lâm: 10 em).

Năm 2014: cử 40 em (Y Dược: 30 em; Kinh tế: 05 em; Giao thông vận tải: 05 em).

Năm 2015: cử 40 em (Sư phạm: 14 em; Văn hóa: 06 em; Giao thông vận tải: 03 em; Y Dược 17 em).

Năm 2016: cử 40 em (Nông lâm: 08 em; Y Dược: 20 em; Luật: 12 em).

Năm 2017: cử 44 em (Y Dược: 30 em; Quản lý nhà nước: 14 em).

Về lý luận chính trị:

Bảng 2. Kết quả đào tạo về trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số:

Đơn vị tính: Lượt người

Năm Trình độ

Cao cấp Trung cấp Sơ cấp

2013 11 27 36

2014 14 39 34

2015 18 51 29

2016 13 41 25

2017 15 44 27

Tổng 71 202 151

Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai, năm 2017

Trong 05 năm đã đào tạo lý luận chính trị trình độ Cao cấp là 71 lượt người, chiếm tỷ lệ 2,8%; Trung cấp là 202 lượt người, chiếm tỷ lệ 8%; Sơ cấp là 151 lượt người, chiếm tỷ lệ 6%.

Về kiến thức quản lý nhà nước:

Bảng 3. Kết quả đào tạo về trình độ kiến thức quản lý nhà nước cho đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số:

Đơn vị tính: Lượt người

Năm Trình độ

CVCC CVC CV Cấp xã

2013 2 4 20 68

2014 1 6 25 51

2015 9 24 49

2016 2 7 29 38

SVTH: Ksor H’ Loan 25

2017 8 24 42

Tổng 5 34 122 248

Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai, năm 2017.

Hiện nay, công chức là người dân tộc thiểu số được bồi dưỡng ngạch Chuyên viên cao cấp là 05 lượt người, chiếm tỷ lệ 0,2%; Chuyên viên chính là 34 lượt người, chiếm tỷ lệ 1,4%; Chuyên viên là 122 lượt người, chiếm 4,8%; bồi dưỡng quản lý nhà nước chương trình cấp xã: 248 lượt người, chiếm tỷ lệ 9,8%.

Về tin học, ngoại ngữ và kỹ năng chuyên ngành:

Tin học, Ngoại ngữ là những tiêu chí trình độ phụ, song rất cần thiết cho bất kỳ công chức nào trong suốt cuộc đời chức nghiệp, nó là vốn kiến thức bổ trợ nhưng bắt buộc để thực hiện nhiệm vụ của công chức và cũng là một trong các điều kiện để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức.

Liên tục qua các năm, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức bổ trợ cho đội ngũ công chức nói chung và công chức người dân tộc thiểu số nói riêng đều được chú trọng, cụ thể: Bồi dưỡng ngoại ngữ (Anh văn) chương trình A và B được 133 lượt người, chiếm tỷ lệ 5,3%; bồi dưỡng kiến thức Tin học chương trình A va B được 568 lượt người, chiếm tỷ lệ 22,5%. Ngoài ra hằng năm tỉnh đều mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng chuyên ngành cho 283 lượt người, chiếm tỷ lệ 11,2%.

Bảng 4. Kết quả đào tạo về trình độ tin học, ngoại ngữ và kỹ năng chuyên ngành cho đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số:

Đơn vị tính: Lượt người

Năm

Trình độ Ngoại ngữ

(Anh văn) Tin học Kỹ năng

chuyên ngành

2013 21 85 52

2014 25 117 82

2015 30 91 51

2016 28 133 39

2017 29 142 59

Tổng 133 568 283

Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai, năm 2017.

Thứ nhất, tỉnh đã rất quan tâm, chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, hoàn thiện về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh, đặc biệt là đối với đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số từ tỉnh đến cơ sở.

Thứ hai, ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã ban hành nhiều văn bản quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức như việc hỗ trợ về chế độ đi học, chế độ đãi ngộ đối với những người có trình độ sau đại học có cam kết phục vụ lâu dài, đặc biệt là các chế độ hỗ trợ công chức người dân tộc thiểu số đi học.

Thứ ba, Công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay cũng được thực hiện khá thuận lợi, do có kế hoạch cụ thể từng năm nên tỉnh Gia Lai đã chủ động trong việc phối hợp với các trường Đại học, Học viện, Trường trung học chuyên nghiệp trên cả nước để mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại trường Chính trị tỉnh, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh và các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Trung tâm Giáo dục thường xuyên ở các huyện.

Thứ tư, Các nội dung đào tạo, bồi dưỡng cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

Thứ năm, Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC những năm qua của tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh, triển khai thực hiện theo đúng hướng dẫn, quy định của Trung ương và của tỉnh, đạt 100% kế hoạch đề ra. Việc cử CBCC là người DTTS đi đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo theo đúng đối tượng, theo tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn ngạch

SVTH: Ksor H’ Loan 27

công chức... mục tiêu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng luôn gắn với yêu cầu nhiệm vụ công tác và với quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ.

Thứ sau, công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC ngày càng đi vào nề nếp và có hiệu quả cao hơn hẳn so với các năm trước...Tinh thần, thái độ học tập của đội ngũ CBCCVC ngày càng tự giác, tích cực; các cơ quan, đơn vị đã nghiêm túc, chủ động hơn trong công tác phối hợp, triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC của địa phương, đơn vị mình cũng như kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC của tỉnh đã đề ra.

Bên cạnh những kết quả về đào tạo, bồi dưỡng công chức người dân tộc thiểu số mà tỉnh Gia Lai đã đạt được thì trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

Thứ nhất, chưa có sự cải cách và đổi mới toàn diện về phương thức, đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực quản lý, điều hành trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời kỳ hiện nay.

Thứ hai, phương thức đào tạo, bồi dưỡng vẫn nặng về hình thức tiêu chuẩn bằng cấp, nội dung chương trình chủ yếu trên cơ sở lý thuyết, chưa chú trọng vào bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hành và ít gắn liền với chức trách, nhiệm vụ theo từng loại công chức.

Thứ ba, chưa xây dựng được chương trình đào tạo, bồi dưỡng riêng đối với đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số.

Thứ tư, Một số cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vẫn còn ở tình trạng khó khăn, thiếu thốn và lạc hậu về cơ sở vật chất như: thiếu phòng học, hội trường, phòng họp; lạc hậu về trang thiết bị giảng dạy, như hệ thống âm thanh, điều hòa nhiệt độ, ánh sáng, máy đèn chiếu, bảng giấy lật, ti vi và máy quay video.

Thứ năm, đội ngũ giảng viên hiện nay còn nhiều bất cập cả về chất lượng và số lượng. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đều tuyển các giảng viên trẻ chưa có kinh nghiệm công tác nên còn hạn chế trong công tác giảng dạy.

Thứ sau, chất lượng một số bài giảng chưa cao; chương trình, kế hoạch học tập còn bị xáo trộn, thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế lớp học và tình hình tại địa phương.

Thứ bảy, các chính sách đào tạo, bồi dưỡng còn chưa bắt kịp được với những thay đổi của thực tiễn nên các chính sách nhiều khi lại trở thành lực cản đối với việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng.

- Các cô, chú, anh, chị đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực tập như: cung cấp tài liệu, số liệu cần thiết phục vụ cho viết báo cáo, hướng dẫn để làm báo cáo,hỗ trợ và sử dụng các thiết bị văn phòng…

- Tuy nhiên,cơ quan chưa mạnh dạn giao những công việc thuộc chuyên ngành để em có thể làm quen tốt hơn nữa với chuyên môn của mình. Do đó, em kiến nghị với cơ quan trong thời gian tới, khi tiếp nhận sinh viên thực tập, cơ quan cần giao những công việc thuộc về chuyên môn và phù hợp với trình độ của họ. Điều này sẽ tạo cơ hội cho sinh viên nắm bắt được những kiến thức mà mình không được học trên trường, học hỏi được những kinh nghiệm từ những anh chị đi trước.

Quá trình thực tập đã giúp khoá 15 nói chung và riêng em có những kiến thức quý báu để làm hành trang cho quá trình làm việc thực tế sau khi tốt nghiệp mặc dù vậy, trong quá trình thực tập em nhận thấy em vẫn còn thiếu xót khá nhiều về các kỹ năng thực tế, chính vì vậy, em mong trong quá trình đào tạo, không chỉ chú trọng đến kiến thức chuyên môn mà cần phải chú trọng cả những kiến thức thực tế, các kỹ năng mềm liên quan tới công việc trong cơ quan.

SVTH: Ksor H’ Loan 29

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng, là yếu tố quyết định đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp có đủ năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.Đối với tỉnh Gia Lai nói riêng, là một tỉnh miền núi với hơn 44% dân số là người dân tộc thiểu số, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu số nói riêng lại càng có ý nghĩa thiết thực.

Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, tác giả luận văn đã thu thập, phân tích, đánh giá về thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai hiện nay, làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại.

Kết quả báo cáo cho thấy: Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trong thời gian qua cơ bản đã đạt được một số kết quả và có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức người là dân tộc thiểu số vẫn còn một số hạn chế, bất cập.Để góp phần nâng cao chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và công chức là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai nói riêng báo cáo đã đưa ra 03 nhóm giải pháp chủ yếu đối với các cơ quan quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng, đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đối với công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng; theo đó đã đề ra một số giải pháp cụ thể như: Đổi mới tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đạt chuẩn; xác định đúng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức người dân tộc thiểu số; xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức người dân tộc thiểu số;; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học; tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức; phát triển đội ngũ giảng viên; đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng; đổi mới phương pháp giảng dạy; nâng cao ý thức về học tập nâng cao trình độ công chức.

1. Sở Nội vụ Gia Lai (2013), Báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

2. Sở Nội vụ Gia Lai (2014), Báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,

Một phần của tài liệu baocaothuctap 3 hoanchinh(1) (Trang 23 - 31)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(31 trang)
w