CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI CÔNG XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TẠI DOANH NGHIỆP
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thi công xây dựng công trình tại doanh nghiệp xây dựng
1.3.1. Nhóm các nhân tố chủ quan
a. Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng
Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp xây dựng là khả năng sản xuất sản phẩm xây dựng thực tế cao nhất có thể đạt được trong một đơn vị thời gian (thường là năm) của doanh nghiệp đó.
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp xây dựng là tổng hợp năng lực sản xuất của các máy móc xây dựng, các đội thợ và giây chuyền sản xuất. Năng lực sản xuất
của một máy và một tổ công nhân có thể tính theo hiện vật hay theo giá trị dự toán công tác xây lắp.
Để xác định năng lực sản xuất cần phải dựa trên khối lượng công tác xây lắp phải thực hiện trong năm theo tất cả các hợp đồng xây dựng. Vì doanh nghiệp xây dựng có thể đi thuê máy móc và công nhân để xây dựng nên năng lực sản xuất tự có và năng lực sản xuất đi thuê.
Do đó các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng cần xác định chính xác năng lực sản xuất của mìn để quản lý thi công công trình xây dựng đạt hiệu quả.
b. Trình độ kỹ thuật công nghệ
Trình độ kỹ thuật công nghệ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất kinh doanh xây dựng, được thể hiện thông qua những nội dung sau:
Các nhân tố ảnh hưởng đến phương hướng phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ tiến bộ trong sản xuất xây dựng bao gồm:
- Các đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của sản xuất xây dựng - Các đặc điểm kinh tế và tự nhiên của đất nước
- Nhiệm vụ xây dựng.
Các phương hướng phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất xây dựng:
- Các phương hướng đối với công cụ lao động: trong xây dựng phải đẩy mạnh áp dụng cơ giới hoá, từng bước áp dụng tự động hoá một cách hợp lý, chú trọng phát triển cơ khí nhỏ phục vụ xây dựng, kết hợp giữa cách đi tuần tự và cách đi tắt trong phát triển và áp dụng kỹ thuật xây dựng.
- Các phương hướng đối với công nghệ xây dựng: Trong công nghệ xây dựng, máy móc xây dựng giữ vai trò quan trọng, vì vậy phương hướng phát triển công nghệ xây dựng cũng tương tự như đối với máy xây dựng có kết hợp với phương hướng phát triển vật liệu và kết cấu xây dựng vì loại hình vật liệu và kết cấu xây dựng có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng máy móc xây dựng. Ngoài ra một phương hướng quan trọng khác đó là việc phát triển công nghệ xây dựng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước ta như công nghệ dưỡng bê tông cốt thép khi đổ toàn khối tại chỗ, công nghệ xây dựng trong mùa mưa bão, công nghệ chống thấm dột và chống ăn mòn.
Trong công nghệ xây dựng cơ giới hoá có áp dụng phương pháp thi công dây chuyền, sơ đồ mạng với sự trợ giúp của máy tính điện tử cũng là một phương hướng quan trọng.
c. Trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm của công nhân
Lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong các yếu tố của quá trình sản xuất. Trình độ và ý thức của người lao động sẽ tác động rất mạnh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng.
Trình độ lao động quyết định đến chất lượng sản phẩm và năng suất lao động. Nếu lao động có trình độ chuyên môn cao sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm được chi phí lao động. Ngược lại, nếu lao động trình độ không đủ để hoàn thành công việc sẽ dẫn đến tình trạng công việc không được hoàn thành đúng thời hạn, không đảm bảo về chất lượng sẽ làm ách tắc toàn bộ các công việc khác, kết quả sẽ làm tăng chi phí sửa chữa hoặc chi phí chờ đợi.
Đối với các hoạt động xây dựng, trình độ của công nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm xây dựng. Công nhân là người trực tiếp thi công công trình có thể phát hiện những giải pháp thi công cho phù hợp với từng hạng mục công trình khác nhau, góp phần tăng năng suất và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác (nguyên vật liệu, máy thi công...), nếu phát huy được năng lực của công nhân sẽ giúp tiết kiệm chi phí xây dựng trong việc giải quyết rủi ro, hoặc phải ngừng nghỉ chờ sửa chữa máy móc thiết bị. Các nhà quản lý cũng góp phần không nhỏ vào việc phát hiện những bất hợp lý trong hoạt động quản lý, phát hiện những sai sót kỹ thuật, lãng phí nguyên vật liệu. Bên cạnh đó ý thức của người lao động cũng tác động đến hiệu quả kinh doanh xây dựng. Khi ý thức của công nhân cũng như người quản lý cao sẽ giảm lãng phí về nguyên vật liệu, về thời gian, giải quyết công việc nhanh chóng.
Tuyển dụng và đào tạo được đội ngũ lao động có trình độ và ý thức cao là nguồn lực chủ yếu giup doanh nghiệp xây dựng nâng cao hiệu quả lao động và giảm chi phí kinh doanh.
d. Trình độ tổ chức quản lý
Trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải tối đa chi phí xây dựng, vì vậy trình độ tổ chức quản lý nói chung ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuỳ theo quy mô và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà xây dựng hệ thống tổ chức quản lý sao cho đơn giản, gọn nhẹ và phù hợp. Hệ thống quản lý phù hợp sẽ là cơ sở để tuyển dụng vào vị trí quản lý phù hợp với yêu cầu của ngành nghề, cũng như việc tạo điều kiện sử dụng và nâng cao được trình độ chuyên môn của các nhà quản trị.
Trong các doanh nghiệp xây dựng nếu phân cấp quản trị theo tầm quản trị hẹp sẽ có khả năng giám sát và kiểm soát chặt chẽ hoạt động của cấp dưới, lưu thông nhanh chóng thông tin giữa cấp trên và cấp dưới nhưng sẽ tốn kém nhiều cấp quản trị. Doanh nghiệp phải so sánh giữa chi phí tiết kiệm được với chi phí cho bộ máy quản lý để đưa ra quyết định. Ngược lại, nếu phân cấp quản lý theo tầm quản trị hẹp sẽ tiết kiệm được chi phí cho bộ máy quản lý nhưng người quản lý cần phải có năng lực đặc biệt, am hiểu về nhiều chuyên ngành.
Trình độ lập kế hoạch, đặc biệt là lập dự toán và tiến độ thi công sẽ tác động rất lớn tới chi phí xây dựng vì đây là cơ sở để huy động và sử dụng nguyên vật liệu, nhân công. Kế hoạch không hợp lý sẽ không thể quyết định được cường độ sản xuất dễ dẫn đến thừa người, thiếu việc hoặc thiếu người thừa việc...đều làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
Bên cạnh đó, nâng cao trình độ quản lý sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản trị kiểm tra, giám sát được chi phí xây lắp phát sinh theo loại về thời gian và không gian gắn với từng công trình, hạng mục công trình cụ thể. Trên cơ sở đó kiểm tra và đánh giá được tính hiệu quả cụ thể và gắn trách nhiệm đối với từng bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp.
Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.
1.2.3. Nhóm các nhân tố khách quan
1.2.3.1. Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước và của ngành xây dựng
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp. Tác động trực tiếp đến các vấn đề về tín dụng, chống độc quyền, thuế, các chế độ đãi ngộ, hỗ trợ, bảo vệ môi trường. Các tác động này có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng.
Sự ổn định chính trị cũng là một nhóm nhân tố thuận lợi làm tăng khả năng cạnh tranh quốc gia nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp. Mức độ ổn định của hành lang pháp lý tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng phát triển. Ngược lại, doanh nghiệp xây dựng cũng gặp nhiều khó khăn khi phải đối diện liên tục với những thay đổi của pháp luật, làm suy yếu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chính sách của Nhà nước tác động tới doanh nghiệp qua hệ thống luật pháp và các văn bản dưới luật liên quan đến chuyên ngành xây dựng. Chính sách của Nhà nước có thể làm dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí xây dựng của doanh nghiệp.
Chính sách lãi suất, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến chi phí vốn của doanh nghiệp kinh doanh xây dựng. Nếu Nhà nước quy định tỷ lệ lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp và ngược lại.
Chính sách thuế, lệ phí và những ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp cóthể làm tăng hoặc giảm chi phí cho doanh nghiệp xây dựng.
Các chính sách về tiền lương, về giá cả, chế độ hưu trí, trợ cấp…đều ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp xây dựng.
Chính sách đầu tư, phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu tạo ra sự ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng thuộc các vùng, các ngành kinh tế nhất định.
Các chính sách vĩ mô tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh nếu Nhà nước làm tốt công tác dự báo đối với các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng.
1.2.3.2. Điều kiện tự nhiên, địa lý
Sản phẩm cuối cùng của ngành xây dựng thường to lớn, nặng và đắt tiền. Nó đòi hỏi một khu vực địa lý rộng và hầu hết đều được làm riêng theo yêu cầu của chủ đầu tư làm cho hoạt động sản xuất thiếu tính ổn định, có tính lưu động theo vùng lãnh thổ. Việc hiểu rõ được địa điểm thi công không dễ dàng nên trong quá trình thi công có thể gặp phải một số bất lợi làm tăng chi phí cho doanh nghiệp như sau:
- Thiết kế có thể thay đổi theo yêu cầu của chủ đầu tư về công năng hoặc trình độ kỹ thuật, các vật liệu hoặc thay đổi cho phù hợp với thực tế ở công trường xây lắp phát sinh. Những phát sinh này nằm ngoài kế hoạch của doanh nghiệp nên sẽ làm phát sinh chi phí thay đổi thiết kế, chi phí mua sắm nguyên vật liệu, chi phí sử dụng lao động, máy thi công, chi phí di chuyển những yếu tố đó đến công trường.
- Các phương án công nghệ và doanh nghiệp kinh doanh xây dựng phải luôn biến đổi phù hợp với thời gian và địa điểm xây dựng, do đó gây ra khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất cũng như cho công trình tạm phục vụ thi công.
- Do địa điểm xây dựng là những nơi khó khăn, phức tạp, việc sản xuất nói chung thực hiện ở ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên tới hoạt động lao động. Đặc điểm này làm cho các doanh nghiệp xây dựng khó lường trước được nhưng khó khăn phát sinh do điều kiện thời tiến khí hậu ảnh hưởng tới hiệu quả của lao động như: quá trình sản xuất có thể bị gián đoạn do mưa bão hoặc có những rủi ro bất ngờ cho sản xuất. Hơn nữa, sản xuất xây dựnglà lao động nặng nhọc, làm việc trên cao, dễ mất an toàn trong lao động và phát sinh bệnh nghề nghiệp.
1.2.3.3. Sự biến động giá cả của các yếu tố đầu vào
Giá trị của các sản phẩm xây dựng chiếm phần lớn là giá trị nguyên vật liệu nên giá cả của các yếu tố đầu vào đặc biệt là nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn tới việc kinh doanh xây dựng. Một sự thây đổi nhỏ trong đơn giá nguyên vật liệu cũng làm cho chi phí phát sinh là đáng kể vỉ lượng xây dựng thường lớn, sử dụng nhiều nguyên vật liệu. Chẳng hạn khi giá thép tăng thì một công trình xây dựng khi hoàn thành có thể tăng chi phí lên hàng tỷ đồng. Để đối phó với việc
tăng lên của giá cả đầu vào doanh nghiệp xây dựng không còn cách nào khác ngoài việc xem xét các định mức để thay đổi cho phù hợp, hoặc lựa chọn công nghệ thi công mới nhằm tiết kiệm lượng nguyên vật liệu hao phí hoặc giảm lượng nguyên vật liệu cần dùng.
Giá nhân công cũng không dừng ở một mức cố định nào, làm cho việc dự toán của doanh nghiệp nhiều khi không chủ động. Hiện nay, già nhân công của các doanh nghiệp xây dựng thường bị phụ thuộc vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Mức lương này lại thường xuyên thay đổi, nên những công trình đang thi công chắc chắn sẽ bị tăng chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp, khoản trích theo lương của người lao động.
Doanh nghiệp xây dựng cũng phải có những dự báo sự thay đổi về giá cả trong tương la để có biện pháp ứng xử tình huống xẩy ra sao cho không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xây dựng của doanh nghiệp hay hiệu quả kinh doanh được giữ vững.