Thực trạng công tác quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình

Một phần của tài liệu Hoàn thiện công tác quản lý thi công xây dựng công trình giao thông tại công ty tnhh một thành viên dịch vụ công ích quận thủ đức, thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế xây dựng (Trang 57 - 60)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THİ CÔNG XÂY DỰNGCÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV DỊCH VỤ CÔNG ÍCH QUẬN THỦ ĐỨC

2.1. Giới thiệu về Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích Quận Thủ Đức

2.2.3. Thực trạng công tác quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình

bảng tổng hợp khối lượng có sai sót, các khối lượng có trong bản vẽ thiết kế nhưng trong dự toán công trình không có thể hiện hạng mục thanh toán. Các khối lượng này cần phải đưa vào hồ sơ dự thầu làm cơ sở điều chỉnh khối lượng mời thầu hoặc để làm cơ sở sau này chủ đầu tư thanh toán bổ sung. Hiện nay do trình độ cán bộ phụ trách quản lý khối lượng thuộc Phòng kỹ thuật còn thiếu kinh nghiệm thực tế nên công tác kiểm tra khối lượng thường bị sai sót chưa phát hiện được các khối lượng tính thiếu trong hồ sơ mời thầu dẫn đến khi trúng thầu mới phát hiện ra, công ty lập các thủ tục trình chủ đầu tư để xem xét để bổ sung nhưng không được chấp nhận thanh toán phần khối lượng này vì lý do lỗi nhà thầu không kiểm tra kỹ trước khi đấu thầu, giá trúng thầu trọn gói bao hàm luôn các khối lượng còn thiếu nên công ty phải bỏ chi phí ra để thi công các hạng mục này gây tốn kém chi phí. Trong quá trình thi công, công tác kiểm tra bản vẽ thi công đều do các ban chỉ huy công trường thực hiện, trước khi tiến hành thi công một hạng mục của công trình,các công trường tiến hành kiểm tra và tổng hợp khối lượng để gởi vể Phòng kỹ thuật xem xét đề xuất duyệt khối lượng vật tư cấp cho công trường thi công. Công tác quản lý khối lượng thi công của các công trường chưa được quản lý chặt chẽ. Từ đó dẫn đến công tác quản lý khối lượng chưa theo sát theo tình hình diễn biến thi công thực tế tại công trường. Việc này đưa đến không thể kiểm soát được chi phí thi công một cách chặt chẽ và gây thất thoát lãng phí.

Bảng 2.5: Công tác quản lý khối lượng các công trình thực hiện

Đơn vị tính: tỷ đồng

STT CÁC CÔNG TRÌNH

GIÁ TRỊ HỢP ĐỒNG

THI CÔNG

(tỷ đồng)

GIÁ TRỊ PHÁT

SINH NGOÀI

HỢP ĐỒNG (tỷ

đồng)

GIÁ TRỊ PHÁT

SINH TĂNG ĐƯỢC THANH

TOÁN

GIÁ TRỊ PHÁT

SINH TĂNG KHÔNG

ĐƯỢC THANH

TOÁN 1 Nâng cấp và mở rộng

đường 102 - Q9 5,100 0,80 ĐƯỢC

2 Nâng cấp và mở rộng

Đường 22, Q9 5,598 0,62 ĐƯỢC

3 Hạ tầng khu nhà ở 47A,

Q.Thủ Đức 8,550 0,45 KHÔNG

4 Đường Võ Văn Hát, Q.9

11,618 0,35 KHÔNG

5 Đường 49, Q.Thủ Đức 5,420 0.53 KHÔNG

Nguồn: Phòng Kỹ thuật Theo số liệu thống kê ở bảng 2.5 cho ta thấy hầu hết các công trình do công ty thi công tác quản lý khối lượng thì chưa đạt yêu cầu. Chẳng hạn như công trình Đường 22 – Quận 9, công trình Đường 109 – Quận 9, công trình Đường Võ Văn Hát – Quận 9 khối lượng phát sinh như trong công tác đảm bảo giao thông thực hiện trong quá trình thi công trên tuyến đường mở rộng. Nhưng có công trình Chủ đầu tư thanh toán phần khối lượng này nhưng cũng có một số công trình khối lượng phát sinh này Công ty không được Chủ đầu tư thanh toán, dẫn đến thất thoát khối lượng, làm giảm hiệu quả kinh tế các công trình đưa đến việc lợi nhuận của công trình bị giảm sút. Trong quá trình thi công nhiều khối lượng thực hiện thiếu đi biên bản làm việc thay đổi thiết kế bổ sung thêm khối lượng thiếu sót trong quá trình thi công được sự chấp nhận của Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát,Tư vấn thiết kế và Nhà thầu thi công. Nhiều công việc thực thi trong quá trình thi công mà Ban chỉ huy công trường đã thiếu sót không cập nhật trực tiếp vào nhật ký công trường, chính vì vậy sau này công tác nghiệm thu khối lượng phát sinh đưa đến việc tranh cải. Công tác lập dự toán phát sinh còn chậm do sự phối hợp giữa cán bộ phụ trách quản lý khối lượng mà đơn vị Tư vấn thiết kế chưa cao. Một số công việc thực thi trước do tính cấp bách, cập nhật khối lượng sau chính vì thế khối lượng khi duyệt dự toán dẫn đến nhiều tranh luận. Việc kiểm soát khối lượng thi công phụ thuộc vào năng lực của ban chỉ huy công trường là chính, nếu ban chỉ huy công trường có đủ năng lực điều hành thi công thì công trường hoạt động nhịp nhàng, thi công nhanh gọn, hoàn tất thủ tục, hồ sơ nghiệm thu thanh toán nhanh, công trình thi công có hiệu quả. ban chỉ huy công trường không đủ năng lực thi công thì dễ xảy ra sai sót, thi công chậm, nhiều hạng mục công trình thi công khối lượng sai sót nghiêm trọng nhưng không

phát hiện kịp thời, sự can thiệp của công ty khi phát hiện thì đã chậm, dẫn đếnsự tốn kém về kinh phí, vừa mất thời gian kéo dài tiến độ thi công. Nhìn chung hoạt động quản lý khối lượng thi công của công ty còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với thực tế thi công ở hiện trường, hiện nay công tác quản lý khối lượng thi công chủ yếu dựa trên hồ sơ báo cáo từ Ban chỉ huy các công trường là chính. Phòng kỹ thuật công ty chưa thực hiện việc kiểm tra, giám sát, theo dõi mọi diễn biến thực tế diễn ra trên các công trường để đưa ra các biện pháp quản lý thiết thực và hiệu quả, đây là một hạn chế rất lớn của công ty trong công tác quản lý khối lượng thi công. Do đó công ty cần cần có biện pháp khắc phục nhược điểm trên để nâng cao năng lực quản lý thi công.

Một phần của tài liệu Hoàn thiện công tác quản lý thi công xây dựng công trình giao thông tại công ty tnhh một thành viên dịch vụ công ích quận thủ đức, thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế xây dựng (Trang 57 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(117 trang)