CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THİ CÔNG XÂY DỰNGCÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV DỊCH VỤ CÔNG ÍCH QUẬN THỦ ĐỨC
2.1. Giới thiệu về Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích Quận Thủ Đức
2.2.1. Thực trạng công tác quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình
Công tác lập và theo dõi tiến độ: Khi trúng thầu thi công, công ty thành lập Ban chỉ huy công trường để tổ chức và điều hành thi công. Ban chỉ huy công trường căn cứ vào điều kiện thực tế mặt bằng thi công tại công trường, máy móc thiết bị, nhân lực hiện có của công ty để bố trí các mũi thi công, để lập bảng tiến độ thi công công trình. Bảng tiến độ thi công này được bộ phận kỹ thuật của Phòng Kỹ thuật xem xét tính hợp lý về trình tự thi công, thời gian thi công, sự phối hợp giữa các hạng mục thi công và tổng thời gian thi công không được vượt quá thời gian thi cho phép trong hợp đồng. Sau đó trình ban Giám đốc công ty phụ trách xem xét ký và làm cơ sở theo dõi tiến độ thi công tại văn phòng công ty với công trường. Bảng tiến độ được lập theo sơ đồ ngang, thể hiện các mốc thời gian thi công giữa các hạng mục công trình, nhân lực thi công, chưa thể hiện được nhu cầu thiết bị xe máy, nhu cầu vật tư theo kế hoạch. Việc xây dựng bảng tiến độ này phần lớn là dựa theo cảm tính của người lập, chưa dựa trên cơ sở tính toán một cách chi tiết và khoa học.
Tiến độ thi công do các ban chỉ huy công trường lập, nhưng toàn bộ các nguồn lực khác như: Vật tư, thiết bị máy móc, nhân công, đều do kế hoạch bộ phận vật tư thiết bị công ty cấp và điều phối, trong nhiều trường hợp các nguồn lực của công ty cấp không đáp ứng đúng với yêu cầu tiến độ đã đề ra tại công trường làm cho việc thi công kéo dài nên dẫn đến tiến độ theo kế hoạch thường không khả thi so với thực tế.
Công tác theo dõi tiến độ: Sau khi ban giám đốc phê duyệt tiến độ thi công, bảng tiến độ này được lưu tại phòng Kỹ thuật để theo dõi và ban chỉ huy công trường thực hiện, mỗi bộ phận như giám sát, vật tư thiết bị, quản lý chất lượng, khối lượng nghiệm thu thanh toán để theo dõi thực hiện tại các ban chỉ huy công trường.Phòng Kỹ thuật theo dõi giám sát tiến độ thi công các công trường nhưng vẫn chưa thực hiện hết chức năng nhiệm vụ của mình, nhiều hạng mục công trình thi công không đạt như tiến độ đề ra, nhưng chưa nhắc nhở kịp thời, chưa có biện
pháp cụ thểtrong công tác phối hợp về tiến độ giữa Phòng Kỹ thuật và ban chỉ huy công trường, chưa tìm ra nguyên nhân chính và biện pháp khắc phục. Việc điều chỉnh tiến độ thi công thường được tiến hành trong các trường hợp sau:Khi công trình có dấu hiệu chậm tiến độ, hoặc ngưng thi công trong một thời gian dài do các nguyên nhân chủ quan, khách quan. Công tác thi công sự phối hợp giữa ban chỉ huy công trường điều hành và các phòng ban của công ty, nhưng các phòng ban vẫn chưa thực hiện hết chức năng nhiệm vụ của mình để hỗ trợ ban chỉ huy công trường để có biện pháp kịp thời chấn chỉnh khi các công trường chưa thực hiện đúng như tiến độ thi công đề ra, tìm giải pháp tháo gỡ cho các vướng mắc phát sinh trong quá trình thi công. Nhiều công trình thời gian thực tế thi công so với hợp đồng trể tiến độ rất nhiều do những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân chủ quan như việc cung cấp vật tư và thiết bị chậm kéo dài làm cho tiến độ chậm. Công nhân kỹ thuật có tay nghề cao trong thi công tại công trường thì ít, công nhân thời vụ tay nghề kém thì nhiều đưa đến năng suất lao động thấp cũng là nguyên nhân chậm tiến độ công trình. Trong những năm gần đây nguồn vật tư càng ngày càng khan hiếm, giá cả lại tăng cao so với thời điểm đấu thầu chính vì vậy mà Công ty cũng không mạnh dạn đẩy nhanh các hạng mục trước tiến độ mà công tác thi công tại công trình cầm chừng đang ngóng chờ vào kế hoạch vốn hàng năm được ghi để thực hiện vì vậy làm ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thi công. Ngoài nguyên nhân chủ quan còn có nguyên nhân khách quan do công tác vướng mặt bằng kéo dài, thời tiết khí hậu thay đổi nhiều làm cho công tác thi công gặp khó khăn đưa đến tiến độ thi công chậm.
Bảng 2.3: Thời gian theo hợp đồng và thời gian thi công thực tế
STT CÁC CÔNG TRÌNH
NĂM HOÀN THÀNH
THỜI GIAN THEO HỢP ĐỒNG (THÁNG)
THỜI GIAN THỰC TẾ
THI CÔNG (THÁNG)
THỜI GIAN THI CÔNG KÉO DÀI (THÁNG) 1 Nâng cấp và mở rộng
đường 102 - Q9 2010 5 12 7
2 Nâng cấp và mở rộng Đường 22-P.Tăng Phú B, Q9
2011 6 11 5
3 Đường Gò Cát-P.Phú Hữu,
Q9 2012 6 15 9
4 Hạ tầng khu nhà ở 47A ,
P.Linh Đông, Q.Thủ Đức 2014 5 9 4
5 Đường Võ Văn Hát- Q9 2015 5 9 4
6 Đường 49-Phường
HBC,Thủ Đức 2016 4 9 5
7 Hệ thống thoát nước đường Bác Ái- P.Bình Thọ, Thủ Đức
2017 5 8 3
Nguồn: Phòng kỹ thuật Theo số liệu thống kê ở bảng 2.3 cho ta thấy hầu hết các công trình do công ty thi công đều chậm tiến độ và phải xin chủ đầu tư gia hạn nhiều lần. Việc chậm tiến độ thi công là do nhiều nguyên nhân, ngoài những nguyên nhân khách quan như: Do giải phóng mặt bằng chậm, Chủ đầu tư thanh toán chậm, do sự trược giá vật liệu, do điều kiện thời tiết bất lợi, mưa bão...vv. Còn lại chủ yếu là do các nguyên nhân chủ quan của công ty tạo nên đó là: Công tác cung cấp và quản lý vật tư của công ty còn nhiều bất cập việc cung cấp vật tư cho các công trường chưa đảm
bảo theo kế hoạch thi công, nhiều công trường phải ngưng thi công do chờ đợi vật tư từ các nhà cung cấp. Thiết bị xe máy phục vụ thi công: Toàn bộ thiết bị xe máy phục vụ thi công trên công trường đều do công ty điều hành. Do công ty phải thi công nhiều công trình trong cùng một thời gian nhưng số lượng thiết bị thi công của công ty có hạn nên việc đáp ứng yêu cầu máy thi công không đảm bảo theo yêu cầu của thực tế thi công cũng là một nguyên nhân gây chậm tiến độ thi công. Bên cạnh những hạn chế về cấp vật tư, thiết bị, vấn đề vốn để phục vụ thi công của công ty cũng thiếu nhịp nhàng, nhiều khi quá chậm so với yêu cầu của các công trường cũng là nguyên nhân chậm tiến độ. Không có vốn nên công ty không cung được vật tư, đầy đủ và đúng thời gian yêu cầu, không thể huy động được nhân lực, thiết bị thi công đúng tiến độ làm cho công trường ngừng thi công. Việc chậm tiến độ thi công làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của công ty đối với các chủ đầu tư, làm giảm khả năng cạnh tranh trên thương trường. Mặt khác, làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh công ty giảm, làm tăng chi phí quản lý, tăng chi phí máy thi công, tăng chi phí do trược giá nguyên vật liệu làm tăng giá thành công trình, gây thất thoát và nguy cơ thua lỗ là rất cao. Do đó công ty cần phải nghiên cứu, tìm giải pháp hợp lý để khắc phục các hạn chế nêu trên.
2.2.2. Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng công trình do Phòng kỹ thuật đảm nhận nhiệm vụ kiểm tra giám sát các ban chỉ huy công trường về việc chấp hành tuân thủ các qui định về đảm bảo chất lượng theo qui định của công ty cũng như các quy định của pháp luật nhà nước đã ban hành. Nhưng trong thực tế của công ty, các ban chỉ huy công trường đảm nhận trong suốt quá trình thi công công trình, toàn bộ biện pháp thi công, công tác quản lý kỹ thuật, lập hồ sơ hoàn công đều do công trường đảm nhận. Phòng kỹ thuật chỉ có nhiệm vụ kiểm tra các ban chỉ huy công trường thực hiện trong công tác quản lý chất lượng công trình. Một số công trường do trình độ chuyên môn của cán bộ kỹ thuật phụ trách quản lý chất lượng chưa có nhiều kinh nghiệm nên chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Nhiều hạng mục công trình sau khi thi công xong nhưng vẫn không kịp lập hoàn tất hồ sơ quản lý chất lượng với các hạng mục ngoài hiện trường. Do các cán bộ làm hồ sơ chưa nắm vững thủ tục, biểu mẫu nghiệm thu nên khi làm thường bị mắc lỗi sai sót, thiếu hồ sơ phải bổ sung
nhiều lần, chưa bám sát với cán bộ quản lý dự án của Chủ đầu tư và cán bộ giám sát chính tại công trường. Nhiều công trình khi thi công xong phải mất thêm một khoảng thời gian từ khá dài Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát nhắc nhở nhiều lần mới hoàn tất được toàn bộ thủ tục hồ sơ hoàn công để bàn giao cho Chủ đầu tư. Mọi thủ tục trong công tác quản lý hồ sơ chất lượng đều do cán bộ chuyên trách tại công trường thực hiện và giao dịch trực tiếp với Tư vấn giám sát và Chủ đầu tư. Việc tham gia của Phòng kỹ thuật vào công tác quản lý chất lượng chưa cao, Cán bộ quản lý chất lượng của phòng cùng một lúc được giao quản lý nhiều công trình nên công tác giám sát, quản lý hoặc hỗ trợ cho các công trường rất hạn chế. Hiện nay do Công ty phải thi công nhiều công trình trong một lúc, đội ngũ cán bộ quản lý chất lượng của phòng kỹ thuật cón quá mỏng mà còn phải đảm nhiệm nhiều công việc khác. Việc luân chuyển cán bộ kỹ thuật còn non trẻ từ mảng đầu tư sang thi công chính vì vậy cán bộ kỹ thuật này chưa có kinh nghiệm chưa nắm hết công việc khi nhận nhiệm vụ mới phải mất nhiều thời gian mới nắm bắt được công việc được.
Bảng 2.4: Công tác quản lý chất lượng các công trình thực hiện
STT CÁC CÔNG TRÌNH
NĂM HOÀN THÀNH
CÔNG TÁC QUẢN
LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐẠT THEO
TIẾN ĐỘ THI
CÔNG
KHÔNG ĐẠT THEO TIẾN ĐỘ
THI CÔNG
1 Nâng cấp đường 102 - Q9 2010 ĐẠT ĐẠT
2 Nâng cấp Đường 22, Q9 2011 ĐẠT ĐẠT
3 Đường Gò Cát, Q9 2012 KHÔNG KHÔNG
4 Hạ tầng khu nhà ở 47A,
Q.Thủ Đức 2014 ĐẠT KHÔNG
5 Đường Võ Văn Hát- Q9 2015 ĐẠT ĐẠT
6 Đường 49- HBC,Thủ Đức 2016 KHÔNG KHÔNG
7 HTTN đường Bác Ái, T.Đức 2017 ĐẠT ĐẠT
Nguồn: Phòng Kỹ thuật
Theo số liệu thống kê ở bảng 2.4 cho thấy hầu hết các công trình do công ty thi công tác hồ sơ quản lý chất lượng thì đạt yêu cầu. Nhưng tiến độ thực hiện hồ sơ quản lý chất lượng so với tiến độ thi công không đạt là do nhiều nguyên nhânsau:
Cán bộ quản lý chưa có kinh nghiệm, chưa phối nhịp nhàng giữa Tư vấn giám sát và cán bộ quản lý dự án. Chỉ huy trưởng công trường thiếu đôn đốc nhắc nhở trong công việc thực hiện. Ví dụ như công trình: Nâng cấp đường Võ Văn Hát – Quận 9, đây là các công trình thuộc Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình Quận 9 làm Chủ đầu tư nên công việc quản lý về hồ sơ chất lượng cũng như tính pháp lý trong quá trình lập hồ sơ quản lý chất lượng , hồ sơ hoàn công rất chặt chẽvà theo kịp tiến độ thực hiện. Một số công trình công tác quản lý chất lượng không đạt về công tác quản lý chất lượng cũng như tiến độ thực hiện theo thi công như Công trình Đường 49 công tác quản lý chất lượng không đạt và không tiến độ thi công do Tư vấn giám sát chưa có kinh nghiệm nhiều trong công tác hướng dẫn cho cán bộ quản lý chất lượng của đơn vị thi công. Về phía Công ty thì cán bộ kỹ thuật quản lý chất lượng còn quá thụ động, công tác kiểm tra, kiểm soát hồ sơ còn lơ là dẫn đến thiếu sót mà không hay biết gì, cho đến khi công tác bàn giao hồ sơ quản lý chất lượng cho Ban quản lý tiếp nhận và quản lý thì đã phát hiện những điểm thiếu sót trong công tác quản lý chất lượng công trình này: Công tác lấy mẫu và kiểm tra vật liệu đầu vào còn thiếu sót chưa đúng theo quy chuẩn, quy phạm hiện hành....
Qua đó cũng làm đi mất uy tín của Công ty về công tác quản lý hồ sơ chất lượng công trình.
2.2.3. Thực trạng công tác quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình Công tác quản lý khối lượng thi công là một khâu rất quan trọng trong việc quản lý thi công xây dựng công trình. Việc quản lý khối lượng thi công tốt nó sẽ giúp cho công ty nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời hạn chế được những rủi ro, thất thoát do khối lượng hồ sơ thiết kế tính thiếu, hoặc giảm được những chi phí phát sinh không đáng có do thiết kế chưa lường được hết, giúp cho công ty kiểm soát được chi phí thi công. Hiện nay, công tác quản lý khối lượng thi công được tiến hành ngay từ khâu lập hồ sơ dự thầu. Khi công ty tham gia dự thầu, Phòng kỹ thuật tiến hành kiểm tra khối lượng trong hồ sơ thiết kế để phát hiệnnhững sai sót về mặt khối lượng, các lỗi số học từ hồ sơ thiết kế bản vẽ đưa vào
bảng tổng hợp khối lượng có sai sót, các khối lượng có trong bản vẽ thiết kế nhưng trong dự toán công trình không có thể hiện hạng mục thanh toán. Các khối lượng này cần phải đưa vào hồ sơ dự thầu làm cơ sở điều chỉnh khối lượng mời thầu hoặc để làm cơ sở sau này chủ đầu tư thanh toán bổ sung. Hiện nay do trình độ cán bộ phụ trách quản lý khối lượng thuộc Phòng kỹ thuật còn thiếu kinh nghiệm thực tế nên công tác kiểm tra khối lượng thường bị sai sót chưa phát hiện được các khối lượng tính thiếu trong hồ sơ mời thầu dẫn đến khi trúng thầu mới phát hiện ra, công ty lập các thủ tục trình chủ đầu tư để xem xét để bổ sung nhưng không được chấp nhận thanh toán phần khối lượng này vì lý do lỗi nhà thầu không kiểm tra kỹ trước khi đấu thầu, giá trúng thầu trọn gói bao hàm luôn các khối lượng còn thiếu nên công ty phải bỏ chi phí ra để thi công các hạng mục này gây tốn kém chi phí. Trong quá trình thi công, công tác kiểm tra bản vẽ thi công đều do các ban chỉ huy công trường thực hiện, trước khi tiến hành thi công một hạng mục của công trình,các công trường tiến hành kiểm tra và tổng hợp khối lượng để gởi vể Phòng kỹ thuật xem xét đề xuất duyệt khối lượng vật tư cấp cho công trường thi công. Công tác quản lý khối lượng thi công của các công trường chưa được quản lý chặt chẽ. Từ đó dẫn đến công tác quản lý khối lượng chưa theo sát theo tình hình diễn biến thi công thực tế tại công trường. Việc này đưa đến không thể kiểm soát được chi phí thi công một cách chặt chẽ và gây thất thoát lãng phí.
Bảng 2.5: Công tác quản lý khối lượng các công trình thực hiện
Đơn vị tính: tỷ đồng
STT CÁC CÔNG TRÌNH
GIÁ TRỊ HỢP ĐỒNG
THI CÔNG
(tỷ đồng)
GIÁ TRỊ PHÁT
SINH NGOÀI
HỢP ĐỒNG (tỷ
đồng)
GIÁ TRỊ PHÁT
SINH TĂNG ĐƯỢC THANH
TOÁN
GIÁ TRỊ PHÁT
SINH TĂNG KHÔNG
ĐƯỢC THANH
TOÁN 1 Nâng cấp và mở rộng
đường 102 - Q9 5,100 0,80 ĐƯỢC
2 Nâng cấp và mở rộng
Đường 22, Q9 5,598 0,62 ĐƯỢC
3 Hạ tầng khu nhà ở 47A,
Q.Thủ Đức 8,550 0,45 KHÔNG
4 Đường Võ Văn Hát, Q.9
11,618 0,35 KHÔNG
5 Đường 49, Q.Thủ Đức 5,420 0.53 KHÔNG
Nguồn: Phòng Kỹ thuật Theo số liệu thống kê ở bảng 2.5 cho ta thấy hầu hết các công trình do công ty thi công tác quản lý khối lượng thì chưa đạt yêu cầu. Chẳng hạn như công trình Đường 22 – Quận 9, công trình Đường 109 – Quận 9, công trình Đường Võ Văn Hát – Quận 9 khối lượng phát sinh như trong công tác đảm bảo giao thông thực hiện trong quá trình thi công trên tuyến đường mở rộng. Nhưng có công trình Chủ đầu tư thanh toán phần khối lượng này nhưng cũng có một số công trình khối lượng phát sinh này Công ty không được Chủ đầu tư thanh toán, dẫn đến thất thoát khối lượng, làm giảm hiệu quả kinh tế các công trình đưa đến việc lợi nhuận của công trình bị giảm sút. Trong quá trình thi công nhiều khối lượng thực hiện thiếu đi biên bản làm việc thay đổi thiết kế bổ sung thêm khối lượng thiếu sót trong quá trình thi công được sự chấp nhận của Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát,Tư vấn thiết kế và Nhà thầu thi công. Nhiều công việc thực thi trong quá trình thi công mà Ban chỉ huy công trường đã thiếu sót không cập nhật trực tiếp vào nhật ký công trường, chính vì vậy sau này công tác nghiệm thu khối lượng phát sinh đưa đến việc tranh cải. Công tác lập dự toán phát sinh còn chậm do sự phối hợp giữa cán bộ phụ trách quản lý khối lượng mà đơn vị Tư vấn thiết kế chưa cao. Một số công việc thực thi trước do tính cấp bách, cập nhật khối lượng sau chính vì thế khối lượng khi duyệt dự toán dẫn đến nhiều tranh luận. Việc kiểm soát khối lượng thi công phụ thuộc vào năng lực của ban chỉ huy công trường là chính, nếu ban chỉ huy công trường có đủ năng lực điều hành thi công thì công trường hoạt động nhịp nhàng, thi công nhanh gọn, hoàn tất thủ tục, hồ sơ nghiệm thu thanh toán nhanh, công trình thi công có hiệu quả. ban chỉ huy công trường không đủ năng lực thi công thì dễ xảy ra sai sót, thi công chậm, nhiều hạng mục công trình thi công khối lượng sai sót nghiêm trọng nhưng không