I. Khái niệm những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
- Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp được quy định trong Bộ luật hình sự, theo đó người có hành vi gây thiệt hại đáng kể cho xã hội có dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải chịu trách nhiệm hành sự do hành vi của họ không bị coi là tội phạm
- Đặc điểm
o Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đều là những trường hợp gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội nhưng hành vi gây thiệt hại không bị coi là tội phạm do không thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm → phân biệt với các trường hợp thuộc khoản 2 điều 8 (có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên không phải là tội phạm)
o Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự không bị bộ luật hình sự coi là tội phạm.
o Về hậu quả pháp lý, người gây thiệt hại trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự không phải chịu trách nhiệm hình sự → phân biệt với các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự (bị coi là tội phạm nhưng có những điều kiện nhất định được quy định theo luật nên được miễn trách nhiệm hình sự)
II. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự cụ thể
1. Sự kiện bất ngờ - Khái niệm
o Sự kiện bất ngờ là trường hợp người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Điều kiện
o Để được coi là sự kiện bất ngờ cần thỏa mãn một trong hai điều kiện sau:
người gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội không thể thấy trước hậu quả của hành vi do những điều kiện khách quan (điều kiện hoàn cảnh, môi trường làm cho không thể biết trước hậu quả xảy ra)
Người gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội có thể thấy hoặc không thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật không buộc người đó phải thấy trước hậu quả đó do điều kiện khách quan nên mặc dù có thể thấy được hậu quả nguy hại nhưng pháp luật không buộc người đó phải thấy được hậu quả.
Cả hai trường hợp trên người gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội đều không có lỗi, do đó hành vi của họ không phải là tội phạm
- phân biệt với trường hợp lỗi vô ý do cẩu thả
o giống nhau: chủ thể đều không nhận thức được hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi do mình thực hiện
o Khác nhau ở nguyên nhân không nhận thức được
Lỗi vô ý do cẩu thả → nguyên nhân chủ quan
Sự kiện bất ngờ → do nguyên nhân khách quan
II. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
1. Khái niệm
- Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình.
- Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân là khả năng gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi khi cá nhân thực hiện tội phạm.
o người phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự khi đủ độ tuổi theo quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.
o người được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự khi người đó ở trong trình trạng đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi.
o gây thiệt hại trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự → không đạt mục đích giáo dục.
2. Các dấu hiệu - Bao gồm các dấu hiệu sau:
o Dấu hiệu y học: đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần
o Dấu hiệu tâm lý: mất khả năng nhận thức hoăc khả năng điều khiển hành vi của mình
Mất khả năng nhận thức là mất hoàn toàn khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, không biết hành vi của mình đúng hay sai
Mất khả năng điều khiển hành vi là mất hoàn toàn khả năng thực hiện hoặc kiềm chế hành vi của mình theo đòi hỏi của xã hội
o Trường hợp mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác nhưng chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự → đây vẫn được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
III. Phòng vệ chính đáng
1. Khái niệm
- Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
- phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Điều kiện
- Cá nhân chỉ được thực hiện quyền phòng vệ chính đáng khi thỏa mãn các điều kiện và giới hạn dưới đây
- Các điều kiên làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng
o Có hành vi xâm hại bất hợp pháp gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quyền hoặc lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
o Hành vi xâm hại các quyền hoặc lợi ích cần bảo vệ, đang diễn ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc và chưa kết thúc. Nếu chưa có dấu hiệu xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc thì chưa phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Ví dụ: Ban đêm ch nhà th y có ngủ trong mọi ất nguy ưng k phải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọiờng của con ở thành chủ thể của tội phạm nếu nhưi trong khu v c qu n lý tài s n c aực tiếp của tp chỉ có thể là qhxh thể hiện đầy đủ bản chất nguy ải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọi ải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọi ủ trong mọi mình, ch a có d u hi u sẽ t n công ch nhà hay chi m đo t tài s n thìưng k phải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọi ất nguy ện đầy đủ bản chất nguy ất nguy ủ trong mọi ếp của tp chỉ có thể là qhxh thể hiện đầy đủ bản chất nguy ạm. ải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọi không có quy n phòng v chính đáng.ều kiện nhất định theo quy định BLHS. ện đầy đủ bản chất nguy
Phòng vệ quá sớm là trường hợp một người có hành vi tấn công khi hành vi xâm hại chưa xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc
Phòng vệ quá muộn là trường hợp hành vi xâm hại đã chấm dứt mà người bị xâm hại mới có hành vi ngăn chặn, tấn công lại.
Đều không được coi là phòng vệ chính đáng.
Ngoại lệ: hành vi xâm hại vừa chấm dứt và liền ngay sau đó là hành vi tấn công lại thì cũng phát sinh quyền phòng vệ chính đáng nhằm khắc phục thiệt hại do hành vi xâm phạm vừa gây ra. ví dụ: Ngay sau khi bị tp trực tiếp xâm hại. Ví dụ:
cưng k phải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọiớcp gi t tài s n, n n nhân đu i theo dùng vũ l c ch ng l i ngật tự xã hội ải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọi ạm. ực tiếp của tp chỉ có thể là qhxh thể hiện đầy đủ bản chất nguy ố các cttp, khách thể tp chỉ được phản ánh qua các ạm. ưng k phải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọiờng của coni
cưng k phải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọiớcp gi t đ l y l i tài s n c a mìnhật tự xã hội ể tp chỉ được phản ánh qua các ất nguy ạm. ải luôn được phản ánh một cách đầy đủ trong mọi ủ trong mọi
- Các điều kiện của hành vi phòng vệ chính đáng
o phải gây thiệt hại trực tiếp cho chính người có hành vi xâm hại. trong trường hợp cụ thể, sự chống trả nhằm vào công cụ phương tiện của người có hành vi xâm hại cũng được coi là thỏa mãn điều kiện này.
o Hành vi phòng vệ chỉ được gây ra thiệt hại cần thiết, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại nhằm ngăn chặn hoặc loại bỏ hành vi xâm hại. Để đánh giá xác định điều này cần phải xem xét những yếu tố:
khách thể cần bảo vệ (tính mạng, địa điểm thuộc bí mật quốc gia…)
Mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại gây ra và hành vi chống trả gây ra hoặc đe dọa gây ra
Vũ khí, phương tiện phương pháp mà hai bên đã sử dụng
Nhân thân người xâm hại và người chống trả (giới tính, tuổi, người xâm hại là côn đồ, lưu manh,…)
cường độ của sự tấn công và của sự đáp trả
Hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya vắng,…)
Yếu tố tâm lý của ngươi phải phòng vệ có khi không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là khi bị tấn công bất ngờ.
a. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng - Khoản 2 Điều 22
- Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại → phải chịu trách nhiệm hình sự
- Do động cơ phòng vệ nên người gây thiệt hại trong trường hợp này được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn so với trường hợp thông thường. ví dụ: hành vi giết người do vượt quá giới hajn phòng vệ chính đáng hoặc hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng đều có mức khung hình phạt nhẹ hơn nhiều so với hành vi giết người hoặc hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
- Được coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi thỏa mãn các điều kiện sau:
o người gây thiệt hại có quyền phòng vệ chính đáng
o hành vi chống trả gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại hoặc công cụ phương tiện mà người này đang sử dụg
o hành vi chống trả rõ ràng là quá mức cần thiết không phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi xâm hại → NQ 02/NQ-HĐTP quy định trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đang sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây ra thiệt hại rõ ràng quá mức đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
b. Phòng vệ tưởng tượng
- là trường hợp do nhận thức sau lầm nên tưởng là có hành vi xâm hại của người khác, nhưng trên thục tế không có hành vi xâm hại, nên thực hiện hành vi chống trả, gây thiệt hại cho người đó.
- là một dạng sai lầm về sự việc
- trách nhiệm hình sự được giải quyết theo nguyên tắc giải quyết sai lầ sự việc.
IV. Tình thế cấp thiết
1. Khái niệm
- Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh mối nguy cơ thực tế đang đe dọa lợi ích của nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. 1.23
2. Điều kiện
a. Điều kiện phát sinh quyền
- Thứ nhất, có sự nguy hiểm đe dọa gây thiệt hại cho các quyền, lợi ích của nhà nước, tổ chức, quyền và lợi íc hợp pháp của cá nhân.
o Sự nguy hiểm có thể từ nhiều nguồn khác nhau như hành vi của con người, sự tấn công của động vật, sự cố kĩ thuật hoặc thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn.
o Sự nguy hiểm phải có thật, không phải suy đoán.
- Thứ hai, sự nguy hiểm đang đe dọa gây thiệt hại cho các lợi ích cần bảo vệ, tức là sự nguy hiểm bắt đầu đe dọa gây thiệt hại và chưa kết thúc.
- Thứ ba, việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là lựa chọn duy nhất khi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
o Nếu có phương án khác để bảo vệ quyền và lợi ích trên thì không được gây thiệt hại.
b. Điều kiện về giới hạn và nội dung của quyền gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
- Khi phát sinh quyền gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, cá nhân có quyền gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa, đây là giới hạn quyền.
- Về nội dung, quyền gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết thể hiện ở loại thiệt hại mà người có quyền có thể gây ra. Thông thường là thiệt hại về tài sản. trên lý thuyết, thiệt hại về tính majgn con người chỉ được chấp nhận trong những điều kiện hoàn cảnh đặc biệt.
3. Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
- 2.23, vượt quá giới hạn phòng về chính đáng là trường hợp cá nhân thực hiện quyền gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết nhưng thiệt hại gây ra rõ rang là vượt quá yêu cầu. Do đó, hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng bị coi là tội phạm, phải chịu TNHS.
- Tuy nhiên, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ TNHS d.1.51 - Điều kiện:
o Người gây thiệt hại phải có quyền gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết o Thiệt hại gây ra bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
V. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
1. Khái niệm
- 1.24, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội là hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ
- Không phải là tội phạm, không phải chịu TNHS.
2. Điều kiện
- Người bị bắt giữ là người phạm tội
- Người bắt giữ phải là người có thẩm quyền bắt giữ người phạm tội
o Người thực hiện lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc lệnh bắt của cơ quan, người có thẩm quyền 2.110, 1.113, 2.117 BLTTHS.
o Trường hợp bắt người phạm tội quả tang, người phạm tội truy nã, bất kì cá nhân nào cũng có quyền bắt giữ 1.111, 1.112 BLTTHS.
- Việc dùng vũ lực gây thiệt hại nhất định cho người phạm tội là biện pháp cuối cùng khi không còn biện pháp nào khác và trong những trường hợp pháp luật cho phép - Thiệt hại gây ra cho NPT khi thực hiện quyền bắt giữ chỉ ở mức cần thiết để bắt giữ
họ. Nếu vượt quá mức cần thiết thì hành vi vượt quá đó sẽ bị coi là tội phạm, phải chịu TNHS. Để đánh giá mức độ thiệt hại là cần thiết hay không dựa vào các yếu tố:
o Loại thiệt hịa và mức độ thiệt hại gây ra o Mức độ chống đối của NPT
o Tương quan lực lượng giữa người có quyền bắt giữ và NPT hoặc những NPT o Điều kiện hoàn cảnh thực hiện việc bắt giữ NPT
3. Gây thiệt hại do sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
- 2.24, Gây thiệt hại do sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là trường hợp gây thiệt hại rõ ràng vượt quá mức cần thiết.
- Là dấu hiệu giảm nhẹ định tội 126 và 136 - Là dấu hiệu giảm nhẹ TNHS đ.1.51 - Điều kiện:
o Có đủ các điều kiện phát sinh quyền bắt giữ NPT
o Thiệt hại gây ra cho NPT rõ ràng là vượt quá mức cần thiết để bắt giữ người đó theo quy định của pl. trên thực tế, ranh giới giữa việc xác định thiệt hại cho người đó là cần thiết hay không cần thiết là rất khó xác định nên BLHS quy định chỉ khi gây thiệt hại là rõ rang vượt quá mức cần thiết mới bị coi là tội phạm, phải chịu TNHS.
VI. Gây thiệt hại do rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
1. Khái niệm
- Là hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.
2. Điều kiện
- Thiệt hại gây ra trng khi thực hiện các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
- Người gây thiệt hại đã tuân thủ quy trình, quy phạm và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa khi thực hiện các hoạt động trên
VII.Gây thiệt hại do thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên
1. Khái niệm
- Là hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh dù đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó trừ TH 2.421, 2.422, 2.423
- Người gây thiệt hại không phải chịu TNHS, người ra mệnh lệnh phải chịu TNHS.
2. Điều kiện
- Người ra mệnh lệnh và người thực hiện mệnh lệnh đều công tác trong lực lượng QĐND hoặc CAND
- Người ra mệnh lệnh phải là người chỉ huy hoặc cấp trên của người thi hành mệnh lệnh - Mệnh lệnh do người chỉ hya hoặc cấp trên ban ra trong khi thực hiện nhiệm vụ về
quốc phòng hoặc an ninh
- Người thi hành mệnh lệnh đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người này vẫn yêu cầu họ thực hiện mệnh lệnh.