Mối ghép đình tán và cách tính toán

Một phần của tài liệu Cơ ứng dụng trong kỹ thuật phần 2 (Trang 153 - 156)

1L MỐI GHÉP KHÔNG THÁO ĐƯỢC VÀ CÁCH TÍNH TO

1. Mối ghép đình tán và cách tính toán

Mối ghép định tán là loại mối ghép các chỉ tiết máy dạng rấm, thanh, vỏ móng lại với nhau nhờ một chỉ tiết máy hình trụ trồn (một đầu có mũ sẵn) gọi là định tán, xuyên qua lỗ không ren của các tấm ghép, đùng búa tay, búa máy hoặc máy ép để tạo đầu trụ còn lại thành mũ thứ hai

và để ép chặt các chỉ tiết ghép lại với nhau.

Dựa vào hình dạng mũ đính tán có sẵn, người ta chia ra (hình 16-7) mũ nửa cầu, mũ nửa

chìm, mũ chìm, mũ tán rỗng v.v...

Mối ghếp định tấn được phân loại:

— Theo công dụng: Hinh [6-8

260

+ Mối ghép chắc: là loại mối ghép chịu lực. ví du ding trong kết cấu cầu sắt, piần cầu trục V.V...

+ Mối ghép kín: là mối ghép yêu cầu kín, ví dụ các thùng chứa chất lỏng, khí.

+ Mối ghép chắc kín: mối gbép vừa yêu cầu chịu lực vừa yêu cầu kín, ví dụ dùng trong nổi ấp suất.

— Theo tị trí đâu mối các tấm ghép:

+ Ghép chồng mối (hình 16-§c): đâu các tấm ghép đất chồng lên nhau, + Ghép giáp mối có một hoặc hai tấm đệm (hình Ió-§b): các tấm ghép chính đặt đối đầu với nhau và dùng thêm tấm phụ để ghép chúng lại.

~ Thea số hàng định:

Người ta còn chia ra mối ghép một hàng định (hình 16-8); hai hàng định v.v.

Việc phân loại mối ghép liên quan tới việc tính toán có những chỗ khác nhau.

Đặc điểm của mối ghép đình tán là chác chắn, đễ kiểm tra chất lượng mối ghép cho nên thường được dùng trong những kết cấu chịu tải trọng động như

cầu sắt, giãn cầu trục v, Nhưng nhược điểm của mối ghép này là công nghệ gia công nặng nhọc và ồn, hơn nữa các chỉ tiết ghép phải làm lỗ nên gây ra sự giảm yếu các chi tiết này.

Dưới đây ta sẽ làm quen với cách tính toán thực hành một số mối ghép thường gặp như: đình tán, bulông.

Biến dạng thực của những mối ghép này rất phức tạp và chỉ có thể được khảo sất gần đúng như những biển đạng trượt. Vì vậy những tính toán trình bày trong mục này là đựa trên những giả thiết khá thô và chúng chỉ có đặc trưng quy ước. Nhưng do tính đơn giản của các giả thiết đó mà cách tính toán này được sử dụng rất rộng rãi trong thực tế thiết kế.

Ngoài ra mội số đại lượng sử dụng trong tính toán được lấy từ những số liệu thí nghiệm. Điều này có nghĩa là những sự hiệu chỉnh tương ứng đã dược đưa vào trong tính toán và làm cho những tính toán này trở thành đủ tin cay.

Ta Khảo sát sự làm việc của một đính tán có ba tấm ghép (hình 16-94).

261

Hinh 16-9

Đinh tán có thể bị cắt tại các mặt cắt m-n và m¡~n,. Đó là một trong những đạng phá hỏng chủ yếu của mối ghép này (hình 16-9). Ta gọi đỉnh tán như thế là đính tán có hai mặt bị cất, Mối ghép bulông (hình 16-9b) cũng làm việc trong.

những điều kiện tương tự như mối ghép định tán. Phương pháp tính toán mối ghép đính tán được trình bày dưới đây cũng đúng đối với một số loại liên kết bulông (mối ghép bulông thô).

2. Phương pháp trạng thái giới hạn

Ta cần tìm lực giới han P,, mà đỉnh tán có hai mặt bị cắt có thể chịu được theo điều kiện cất. Chúng ra sẽ xem trạng thái chảy trên các mật bị cắt là lúc mối ghép hết khả năng làm việc. Ở trạng thái này sự trượt đáng kể của các tấm ghép đồng thời xảy ra. Thực tế phá hỏng mối ghép loại này có thể xảy ra với tải trọng vượt quá tải trọng gây ra sự chảy khoảng 1,5 + 2 lần.

Có thể xem ở thời điểm xuất hiện hiện tượng chảy ở mỗi điểm của mật bị cắt, ứng suất đạt được giới hạn chảy tính toán R.. Do đó, giả sử rằng ở trạng thái giới hạn các ứng suất tiếp phân bố đều trên diện tích bi cat va bang R,.

Vi vay ta co: Py, = FR, (16-6)

trong đó F, là diện tích của hai mặt bị cắt m-n và m¡-n; của đình tán.

Nếu gọi d là đường kính của đỉnh tần thì:

2 TT xả? {a)

F

Khi thay (a) vào công thức (16-6) ta tìm được lực giới hạn P„› đối với đỉnh tán có hai mặt bị cắt sau đây:

262

= ad, R, 2 (16-7)

Một phần của tài liệu Cơ ứng dụng trong kỹ thuật phần 2 (Trang 153 - 156)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(258 trang)