Cái trống thể hiện nhận thức về công lý

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 57 - 60)

CHƯƠNG 2: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT

2.4. Cái trống thể hiện nhận thức về công lý

Trong nhận thức của người Việt, cái trống còn được xem là một biu tượng ca công lý. Thời xưa, trước cửa nha môn thường có đặt một cái trống để dân kêu oan. Ai có oan tình hay muốn khiếu nại, kiện tụng điều gì thì đánh trống sẽ được quan tra xét để đòi lại công bằng cho người bị hại. Đó là ý nghĩa của trống nha môn.

Trong Văn hóa Trung Hoa, tiếng trống kêu oan gắn liền với tiếng tăm vang dội của một ông quan thanh liêm thời Tống là Bao Chửng, còn được gọi là Bao Thanh Thiên. Bất kỳ ai đã bước vào cửa Khai Phong phủ đánh trống là nhất định sẽ giành lại được công bằng nếu thật sự có oan tình. Dù đó là bậc cao sang quyền quý hay dân cùng đinh nghèo khổ, Bao Chửng cũng xem như nhau, không vì kẻ sang mà quý, kẻ hèn mà khinh không bênh vực. Và kẻ mắc tội dù là hoàng thân quốc thích cũng xử đúng tội không vị thân.

Ở Việt Nam, tiếng trống đòi công lý cũng là một nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc. Tiếng trống ấy đã vang lên từ rất xa xưa trong những câu chuyện dân gian mà ông bà ta nghĩ ra để lý giải cho những hiện tượng tự nhiên mà nhận thức “ngây thơ” của họ chưa cho phép họ trả lời được một cách khoa học như bây giờ. Chắc hẳn không người Việt Nam nào không biết, không nhớ câu chuyện Cóc kiện trời. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp, nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ

được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to, dám tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

Thế là cóc quyết tìm đường lên trời để kiện ông trời vì sao không làm mưa để dân tình khổ sở. Trên đường đi, cóc kết thân với nhiều người bạn tốt và tất cả họ cùng theo cóc đi kiện trời. Lên đến thiên đình, sau khi cắt cử mỗi con vật vào từng vị trí ẩn nấp, cóc mi nhy lên mt trng tri đánh ba hi trng m vang như sm động. Ngọc Hoàng đang ngủ thức giấc, liền sai thiên lôi ra xem. Thiên lôi cũng mắt nhắm mắt mở vì ngáy ngủ chạy ra ra ngoài xem và chỉ thấy một con cóc xấu xí đang ngồi chễm chệ trên cái trống liền vào tâu với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng tức giận sai gà ra mổ cóc nhưng gà bị cáo vồ ngay lập tức. Cóc lại tiếp tục đánh trống lôi đình. Ngọc Hoàng liền sai các con vật nhà trời ra đánh nhưng bất cứ con vật nào nhà trời sai ra đều bị bạn của cóc đánh chết, và cóc lại tiếp tục đánh trống. Cuối cùng, Ngọc Hoàng đành chịu thua và bằng lòng nghe cóc trình bày sự việc. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa: “Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát.

Cứ tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc họa, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế. Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ”.

Không còn cách nào khác, Ngọc Hoàng phải y theo lời cóc và hứa rằng cứ mỗi lần cóc nghiến răng thì trời sẽ là mưa cho nhân gian không bị khô hạn [Theo xitrum.net]. Người xưa nghĩ ra câu chuyện này để lý giải một hiện tượng tự nhiên:

Vì sao mỗi lần cóc nghiến răng thì trời mưa? Nhưng từ bên trong, chúng ta đã thấy phảng phất một ước vọng được sống công bằng, hạnh phúc, ấm no của con người.

Cái trống ấy vừa mang bóng dáng của cái trống cầu mưa, vừa mang bóng dáng của cái trống kêu oan. Khát vọng công lý của người Việt thể hiện ngay từ chủ đề câu chuyện là “Cóc kiện trời” và khi gặp Ngọc Hoàng, cóc đã dõng dạc vạch trần cái tội

lơ là, thiếu trách nhiệm của nhà trời một cách đường đường chính chính không hề sợ hãi.

Đó là nói đến cái trống trong sự tích, thuộc phạm trù tưởng tượng của con người. Còn thực tế các triều đại phong kiến ở Việt Nam cũng sử dụng trống với chức năng để cho dân tình bày tỏ nỗi oan khiên. Đặc biệt nhất là cái trống ngay tại kinh thành, đặt ở tòa Ty Tam Pháp được gọi là trống Đăng Văn.

Trống Đăng Văn có từ thời vua Lê Thái Tông. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (tr.7, cột 8) có nhắc đến vụ tri huyện Dặc Khiêm bào chữa cho Phạm Luận, cả hai đều bị oan sai, bị giải về Yên Kinh. Nhờ có người anh của Khiêm đánh trống Đăng Văn khiếu oan nên mới được miễn tội (Khiêm kỷ hãm tội, Khiêm huynh kích đăng văn cổ đắc miễn).

Đến đời vua Tự Đức, triều Nguyễn, trống Đăng Văn là biểu hiện nghiêm minh của công lý, vừa thể hiện tính dân chủ vì kêu trực tiếp tới vua. Trống Đăng Văn treo ở Ty Tam Pháp, ở đoạn giữa cửa Thượng Tứ và cửa Ngăn tại kinh thành Huế [An-tôn Nguyễn Ngọc Sơn].

Nội dung tiếng trống Đăng Văn như sau: Sau khi đã xử tòa các cấp mà đương sự vẫn cảm thấy mình bị oan, thì được đến lầu đặt trống Đăng Văn, đánh ba tiếng dõng dạc, rồi tiếp sau ba tiếng trống ấy là một hồi vang vọng. Viện Đô Sát và Đại Lý Sự mỗi tháng ba ngày: Mồng sáu, mười sáu, hai mươi sáu cứ ra trực ở chòi trống. Hễ có ai đến đánh trống thì nhận đơn kêu oan đưa thẳng lên nhà vua.

Tự Đức ra lệnh: Trong Kinh thành không một ai được đánh trống để nhà vua ngự trong Đại Nội khỏi bị nghe nhầm với tiếng trống Đăng Văn. Nghe thấy tiếng

27 http://suckhoedoisong.vn/2011218101354364p0c15/trong-dang-van-mot-bieu-tuong-cong-ly.htm

Hình 2.15: Trống Đăng Văn27

trống, dù lúc ấy nhà vua đang làm gì cũng chuẩn bị sẵn sàng nhận đơn kêu oan kịp thời của Viện Đô Sát và Đại Lý Sự đưa vào. Nhà vua đọc xong, sẽ tự phê ngay trên đơn và đưa xuống Ty Tam Pháp xét xử ngay. Nếu kiện đúng, nhà vua sẽ phán quyết. Để đề phòng bọn gây rối đánh trống náo loạn kinh thành, người đánh trống sẽ phải tự trói tay chân mình lại để khẳng định tiếng trống Đăng Văn ấy đúng là của mình đánh. Chính mình là nhân chứng của mình. Mình phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của tiếng trống ấy [Nguyễn Quang Hà 2011].

Lịch sử vẫn còn ghi nhớ tấm gương của Bà Nguyễn Thị Tồn đã một mình chèo ghe từ Trà Vinh ra tận Phú Xuân ra kêu cứu, giải oan cho chồng. Chồng bà là Bùi Hữu Nghĩa, đỗ thủ khoa năm 28 tuổi vào kỳ thi Hương dưới triều Minh Mạng năm thứ 15. Do tính tình cương trực, thanh liêm, chất phác, luôn bênh vực dân chúng, nên ông luôn bị đồng liêu hãm hại và vu cho tội xúi dân làm loạn, can tội sát nhân. Ông bị giải về kinh chờ ngày thọ án tử hình. Trước tình hình thân cô thế cô, chồng bị hàm oan, bà Thủ khoa Nghĩa đã bất chấp gian lao, nguy hiểm, ròng rã cả tháng trời vượt biển với chiếc ghe bầu ra tận kinh đô đánh lên hồi trống Đăng Văn giải oan cho chồng. Tiếng trống Đăng Văn là một điểm son đáng ca ngợi của chế độ quân chủ phong kiến, mang nhiều ý nghĩa nhân bản [Hoàng Đình Hiếu].

Dù ngày nay, người ta không dùng trống để kêu oan nữa nhưng khi nhắc đến trống Đăng Văn, người ta lập tức nhớ ngay đến tiếng trống kêu oan như một biểu tượng của công lý đã được lịch sử chứng minh.

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 57 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)