Trống tham gia tổ chức hiếu hỉ

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 65 - 68)

CHƯƠNG 3: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT

3.1. Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức sinh hoạt thường ngày

3.1.2. Trống tham gia tổ chức hiếu hỉ

Hiếu hỉ có thể hiểu nôm na là những việc liên quan đến sự vui mừng hay đau buồn của gia đình hay làng xã, cụ thể là việc cưới xin, ma chay, giỗ chạp, khao vọng… Thường thì đó là những biến cố xảy ra trong từng gia đình nhưng trên tinh thần đoàn kết vốn có của cư dân nông nghiệp đã khiến mọi người dân trong làng xã gặp vui thì chung vui, gặp sự đau buồn thì cùng nhau san sẻ làm cho sự đau buồn dịu bớt đi phần nào. Và trong một số công việc hiếu hỉ đó, cái trống cũng góp mặt như một yếu tố cần thiết cho sự việc diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp.

Trước hết xin bàn đến tiếng trống đám ma. Âm nhạc dùng trong đám ma gọi là ban nhạc hiếu. Nhạc hiếu không thể thiếu tiếng kèn và tiếng trống. Người Việt quan niệm: “Sống dầu đèn, chết kèn trống”. Thành ngữ như một định lệ của cộng đồng người Việt dành cho người quá cố. Định lệ đó được coi trọng như tất cả các định lệ khác trong đời sống của họ như cưới hỏi, giỗ chạp, khao vọng, đình đám.

Cưới hỏi phải có xe hoa, pháo hồng; giỗ chạp phải hương khói, cỗ bàn; khao vọng phải mời khách khứa, ca xướng; đình đám phải có nghi trượng, kiệu, cờ, nhạc nhã;

thì khi đi sang thế giới bên kia linh hồn phải có tiếng trống, tiếng kèn tiễn biệt. Định lệ đương nhiên đó đã tồn tại trong đời sống người Việt cả vài ngàn nǎm và đã trở thành một nét đẹp trong vǎn hóa ứng xử giữa con người với con người. Xưa nay không một gia đình nào dù nghèo khó đến đâu, sang giàu đến mấy khi trong nhà có người khuất bóng lại không có tiếng trống, tiếng kèn của ban nhạc hiếu. Tiếng trống, tiếng kèn đó cất lên khi ai oán, khi nhẹ nhàng, khi trò chuyện đã làm khuây khỏa nỗi đau thương của tang chủ trong những thời khắc của lễ tang. Không những

thế nhạc hiếu còn làm cho người đến viếng khẽ khàng hơn, trang nghiêm hơn, hòa nhập nhanh hơn vào không khí tiếc thương người đã khuất [Đặng Hoành Loan].

Riêng cái trống lại đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Đám tang nào cũng vậy, ngoài ban nhạc với kèn, đàn, trống cơm, trống bản… đều có chiếc trống cái mà âm thanh của nó là âm thanh chính quy định các hoạt động, nghi lễ của lễ viếng và lễ đưa linh. “Ba hồi thúc dài khi người chết đã ấm êm trong quan tài như báo hiệu cho xóm giềng, người thân - nhà có người vừa từ trần; tiếng trống nhịp đều chậm rãi nghe buồn bã là nỗi cảm thông chia sẻ của những người thân đến phúng viếng;

trống lễ thần phục như chiếc cầu nối cho hai cõi âm dương giao hòa nỉ non lời tiễn biệt; trống đưa tiễn, trống hạ huyệt, trống báo hiệu đã xong việc chôn cất… đều phải đúng lúc, đúng nhịp và phải có hồn” [Mạnh Minh Tâm 2011].

Trên đây là nói đến tiếng trống báo tang cùng vai trò của nó trong việc hỗ trợ tổ chức tang lễ, đó là đại diện của việc hiếu của gia đình; sau đây, chúng tôi trình bày tiếng trống dùng trong việc hỉ của làng, đó là tiếng trống của đám rước quan trạng, quan nghè về làng. Làng nào có người đỗ đạt cao đều tổ chức lễ nghinh đón hết sức long trọng. Đó không còn là việc cá nhân của một người hay của một gia đình mà là niềm vui, niềm tự hào của cả xã, cả làng, cả tổng. Trong tác phẩm “Lều chõng”, Ngô Tất Tố đã miêu tả đám rước ông Nghè “vinh quy bái tổ” vô cùng hoàng tráng:

“Đám rước lúc ấy bắt đầu sắp thành hàng ngũ. Đầu quân là lá cờ đỏ có thêu bốn chữ “nhất giáp tiến sĩ”. Rồi đến bốn chiếc lọng vàng nghiêng đầu vào nhau che cho mấy chữ “ân tứ vinh qui” đề giữa tấm biển sơn son chung quanh có lớp riềm nhiễu đỏ. Rồi đến một chiếc trống đánh đu dưới cây đòn gỗ bắc dọc trên vai hai người dân phu. Kề đó, ông thủ hiệu trống luôn luôn tỏ vẻ oai vệ bằng bộ mũ tế, áo tế, cái dùi trống chênh chếch gục đầu vào ngực và đôi hia đen xúng xính dưới hai ống quần màu “dúm”.

… Rồi đến ông cầm trống khẩu. Rồi đến võng của quan nghè, võng của cô nghè. Rồi đến võng của cố ông, võng của cố bà… Cuối cùng thì là hai người khiêng

chiêng. Ông thủ hiệu chiêng phục sức và điệu bộ không khác ông chủ hiệu trống, cũng áo tế, cũng mũ tế, cũng đôi hia đen, và chiếc dùi dựa luôn luôn múa ở cửa tay áo thụng”.

[…] “Sau ba hồi trống cái gióng nhau với những tiếng chiêng bu bu, tiếp đến một hồi trống khẩu đi đôi với hôi kiểng đồng, đám rước lục tục theo con đường cũ đi ra, đàn sáo kèn nhị nổi lên inh ỏi. Ra khỏi cổng thành độ vài chục bước, ông chủ hiệu trống thình lình thúc ba tiếng trống díp nhau, để ra hiệu cho hết mọi người đều phải dừng lại. Rồi thì một tay chống thẳng vào sườn, người giữ hiệu lệnh của đám rước đó khoan thai lui xuống năm bước. Và dang hai chân theo hình chứ “bát”, ông ấy múa chiếc dùi trống tiến lên năm bước để nện luôn vào mặt trống mấy tiếng tùng tùng. Dứt hồi tùng tùng thứ nhất, bốn cậu bé con cầm bốn lá cờ phất đồng thời quay mình đánh thót và cùng chầu mặt vào nhau. Sau hồi tùng tùng thứ hai, cả bấy nhiêu cậu nhất tề múa tít lá cờ trong tay để chạy cho hết chiều ngang của mặt đường cái, người ở bên tả xông sang phía hữu, người ở bên hữu xông sang phía tả. Luôn hồi tùng tùng thứ ba, các cậu lại đều quay tròn ngọn cờ và răm rắp lui về chỗ cũ. Đến hồi tùng tùng thứ tư, cờ lại múa bốn cậu lại cùng bước vào giữa đường. Rồi ai nấy đều cúi đầu xuống để phất lá cờ qua mặt và hứ một tiếng thật dài. Thế rồi, mỗi một tiếng tùng là một cái phất cờ, và mỗi cái phất cờ lại một tiếng “hứ”. Vừa đủ bốn lượt “tùng hứ”, ông thủ hiệu trống dõng dạc điểm thưa dùi trống để ra lệnh cho các cậu đó lùi lại chỗ đứng lúc nãy và quay mặt nhìn lên tiên quân. Chiêng trống lại thủng thẳng đánh từng tiếng một, đám rước lại lần lần tiến lên” (Lều chõng – Ngô Tất Tố).

Qua đoạn trích, ta thấy vai trò thật đặc biệt của cái trống. Trong đám rước ấy, trống đi hàng đầu. Nó đóng vai trò tiên phong, dẫn đầu và ra lệnh. Nó có cái uy quyền nhất định. Trống dừng thì cả đám rước dừng. Trống đi thì đám rước mới được đi. Chính tiếng trống hùng hồn cùng những điệu múa trống vô cùng điêu luyện của ông thủ hiệu trống đã tạo nên cái oai của đám rước, cái oai của ông Nghè.

Tóm lại, từ lao động sản xuất đến tổ chức an ninh làng xã, từ nề nếp sinh hoạt thường ngày đến việc hiếu hỉ trong làng ít nhiều đều chịu sự chi phối của tiếng trống. Sự góp mặt của cái trống mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung giá trị lớn nhất mang lại từ tiếng trống chính là khả năng kết nối những con người trong một cộng đồng lại với nhau để cùng chung lo cho việc chung của làng xã.

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 65 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)