Trống tham gia tổ chức học tập, thi cử

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 68 - 72)

CHƯƠNG 3: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT

3.1. Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức sinh hoạt thường ngày

3.1.3. Trống tham gia tổ chức học tập, thi cử

Đối với cuộc đời của một người học sinh thì dường như tiếng trống là một thứ âm thanh gợi nhớ, gợi thương, làm cho người ta bồi hồi xúc động nhất. Mười hai năm mài đũng quần trên ghế nhà trường cũng là mười hai năm tiếng trống trường ghi nhớ trong tim, đi vào tiềm thức. Để rồi một ngày khi đã xa rời tuổi học sinh, một ngày xa quê hương xứ sở, chợt nghe âm vang tiếng trống trường, lòng không khỏi xao xuyến bâng khuâng.

Tiếng trống trường tiễn bao thế hệ học sinh ra trường, rồi đón chào bao đàn em mới. Cái trống trường là nhân chứng thầm lặng cho biết bao kỉ niệm êm đềm của tuổi học trò. Nhiều thứ đổi thay nhưng cái trống vẫn nằm đó, vẫn âm vang và làm thổn thức trái tim học trò. Tiếng trống gắn liền với những cung bậc cảm xúc của mỗi đứa

học sinh. Tiếng trống khai trường náo nức, là niềm vui của trò vào năm mới, được lên lớp mới; là sự bồi hồi, bỡ ngỡ xen lẫn nỗi lo sợ vu vơ của cậu bé con mới bước vào lớp một. Tiếng trng vào lp hối thúc dồn dã, gieo vào lòng cậu học sinh chưa thuộc bài nỗi lo lắng vương mang. Tiếng trng ra chơi mở đầu cho âm thanh rộn rã tưng bừng của đàn ong vỡ tổ. Tiếng trng ra v thong thả ung dung.

28 http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2008/09/3ba0623b/

Hình 3.1: Đánh trống khai trường 28

Khai trường, hc hành, thi c tất cả đều âm vang tiếng trống. Từ đó, chúng ta nhận thấy vai trò đắc lực của cái trống trong việc h tr cho t chc giáo dc.

Nhờ có tiếng trống, hoạt động dạy và học của học sinh và cả giáo viên mới đi vào nề nếp. Và nhờ đó, việc giáo dục của nhà trường mới đạt hiệu quả cao.

Tìm về cội nguồn dân tộc thì ta thấy cái trống trường đã hiện diện trong quá khứ qua hình ảnh chiếc trống trường thi. Trong tổ chức giáo dục ngày xưa, việc thi cử cũng gắn liền với âm thanh của trống. Phan Kế Bính, trong “Phong tục Việt Nam” cho biết, nước ta từ thời nhà Lý mới có khoa cử [Phan Kế Bính 2009: 246].

Khoa cử dưới các triều đại phong kiến được tổ chức rất nghiêm túc và chia làm ba kỳ thi là thi Hương, thi Hội và thi Đình. Danh hiệu của các tân khoa đỗ đạt cũng khác nhau giữa các triều đại. Thi Hương có nhiều trường thi, mỗi tỉnh có khả năng thì được mở một trường thi, nhưng phổ biến là nhiều tỉnh lân cận cùng khu vực gộp lại thành một trường. Các trường thi này cũng khác nhau giữa các thời kỳ, các triều đại. Thi Hội và thi Đình thì được tổ chức tập trung ở kinh đô.

Theo “Phong tục Việt Nam” của Phan Kế Bính: Quốc triều ta, từ năm Minh Mệnh thứ sáu, định lệ cứ năm Tí, Ngọ, Mẹo, Dậu thì mở khoa thi hương. […].

Trước hôm thi vài ngày, các quan trường vào tràng thi gọi là ngày tiến trường. Tiến trường rồi thì bốn mặt trường có lính canh giữ nghiêm cẩn […]. Học trò mỗi người vác một bộ lều chiếu, cổ đeo ống quyển, bầu nước, vai đeo một cái tráp chứa đồ ăn thức dùng, phải chực sẵn ở ngoài cửa từ đêm.

Tan ba hồi trống thì quan trường chia nhau, mỗi người võng lọng ra một cửa […]. Học trò vào đông đủ, đóng lều đâu đấy, sáng rõ thì có đầu bài. [Phan Kế Bính 2009: 247].

Trong các kỳ thi này, cái trống đóng vai trò báo thi và gi gìn trt t trường thi. Về tiếng trống nơi trường thi, nhất là kỳ thi hương, Ngô Tất Tố mô tả cực kỳ tỉ mỉ trong “Lều chõng”:

“Trong mấy gian chòi canh lơ lửng gác ở lưng trời, trống cái đi đôi với thanh la, chốc chốc lại đưa ra những tiếng oai nghiêm trịnh trọng.

[…] Ngoài dãy phên nứa hùng vĩ như bức tường thành quây kín lấy khu nền tường, đội lính trú phòng rầm rập theo vó ngựa của quan giám trường đề điệu diễu từ mặt nọ đến mặt kia. Tiếng nhong nhong của nhạc ngựa hòa với tiếng dình dình của trống quân, càng giúp cho cuộc tuần phòng thêm vẻ cẩn mật.

[…] Thình lình trong nhà Thập đạo, kiểng đồng gióng với trống khẩu, dõng dạc đánh luôn ba hồi. Các bóng đèn lồng nhất tề lay động. Các áo thụng lam, các mũ cánh chuồn đồng thời rộn rịp như sân khấu rạp tuồng.

[…] Dứt mấy tiếng yết hậu của trống khẩu và kiểng đồng, hai hàng đèn lồng bắt đầu ở nhà Thập đạo từ từ tiến ra. Rồi đến một đôi lọng vàng cung kính rước lá cờ khâm sai đi trước. Rồi đến ông chánh chủ khảo và bốn chiếc lọng xanh khúm núm theo sau” (Lều chõng – Ngô Tất Tố).

Sau khi các sĩ tử đã vào trường thi thì các hồi trống lại bắt đầu tuần tự theo quy định: trng ra đầu bài, trng ly du nht trung, trng thu quyn. Thí sinh cứ y theo tiếng trống mà làm bài và nộp bài. Những hồi trống ấy, từng hồi, từng hồi vang lên giữa trường thi im phăng phắc có sức tác động ghê gớm đến tâm trí con người. Bao nhiêu cảm xúc lẫn lộn không diễn tả nỗi thành lời: lo âu, hồi hộp, cuống quýt, hoang mang, lo sợ…

“Một hồi trống cái từ trên chòi canh giật giọng đưa xuống.

Trên chòi canh thình lình điểm một tiếng trống.

Trống cái trên chòi mỗi lúc mỗi mau. Trống cái trên chòi lại càng rộn rã…”

(Lều chõng – Ngô Tất Tố).

Tiếng trống là âm thanh duy nhất, thống lĩnh toàn không gian – một thứ âm thanh ám ảnh lòng người. Có lẽ đó là thứ âm thanh mà bất cứ chàng học trò nào đã dốc lòng “sôi kinh nấu sử” mong tìm kiếm một chút công danh chốn quan trường đều phải trải qua và đều khắc cốt ghi tâm.

Cho dẫu là tiếng trống trường thi ngày xưa hay tiếng trống trường học ngày nay thì cũng là tiếng trống gắn liền với nền giáo dục nước nhà. Ngày nay, có trường

học thay trống bằng chuông điện, gắn ở mỗi hành lang hay gắn trong từng lớp học, có thể vì nhiều lý do, về tính giản tiện, hay sự phù hợp với không gian mới, nhưng trên thực tế, nó đã từng làm không ít học sinh và thầy cô giáo cảm thấy “hụt hẫng”.

Tuy nhiên, đó cũng là số ít, phần nhiều vẫn dùng trống trường. Hàng năm, cứ vào mỗi năm học mới, cơ sở trống Thế Gia tại TP. HCM vẫn làm trên trăm chiếc trống để phục vụ cho các trường học trong và ngoài thành phố. Và chắc là không chỉ riêng cơ sở trống Thế Gia, mà các nơi khác cũng thế. Để rồi cứ mỗi ngày khai giảng đầu năm thì tiếng trống trường vẫn hùng dũng, uy nghiêm vang lên từng hồi giục giã, rung động lòng người. Một âm thanh không thể nào quên.

Không chỉ vang dội trên đất nước Việt Nam, tiếng trống trường Việt Nam còn âm vang trên đất Đức. “Tiếng trống trường Việt Nam âm vang trên đất Đức” – đó là tựa đề một bài viết đăng trên báo SGGP ngày 30/4/1997. Tác giả bài viết là Tiến sĩ dân tộc học Nguyễn Tiến Hữu, Giám đốc Trung tâm văn hóa Tp. Mering, CHLB Đức.

Trung tuần tháng 4 (năm 1997), tại hội trường lớn thuộc Trung tâm văn hóa Mering (CHLBĐ), đã diễn ra buổi sinh hoạt văn hóa đặc biệt giới thiệu đất nước và con người Việt Nam.

“Buổi sinh hoạt văn hóa được mở đầu bằng tiếng trống trường Việt Nam do bà Đỗ Tuyết Bảo, Hiệu trưởng kiêm trưởng đoàn đại biểu trường Phan Tây Hồ (Gò Vấp, TP. HCM) đang ở thăm Đức biểu diễn. Tôi phải dùng hai từ “biểu diễn” ở đây bởi vì, đối với người dân Đức, tiếng trống là điều mới lạ. Ở châu Âu người ta chỉ bấm chuông điện để gọi học sinh vào lớp và tiếng chuông cũng chỉ đủ nghe trong khuôn viên nhà trường. Còn cái trống trường Việt Nam tuy làm bằng gỗ mít và da bò, nhưng tiếng trống lại vang dội đến tận đầu làng cuối xóm để gọi con em đến trường học. Và do đó, cái trống Việt Nam mang một ý nghĩa lớn hơn, tượng trưng cho bản sắc dân tộc và hồn thiêng giống nòi” [Nguyễn Tiến Hữu 1997: 6]. Tác giả còn nhắc đến tiếng trống Tây Sơn và tiếng trống Đồng Khởi trong lịch sử cứu nước của dân tộc.

Tất nhiên, vấn đề “tượng trưng cho bản sắc dân tộc và hồn thiêng giống nòi”

còn phải bàn nhiều đến chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa dân tộc, nhưng điều quan trọng là tiếng trống trường nói riêng, tiếng trống Việt Nam nói chung, đã âm vang trong buổi sinh hoạt văn hóa giới thiệu về đất nước và con người Việt Nam.

Điều đó nói lên rằng những con người mang tiếng trống Việt sang Đức, hay sang các nước bạn bè trên thế giới, đang chảy mạnh trong lòng một tình yêu nước nồng nàn và một sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt Nam. Họ coi trọng tiếng trống Việt Nam và xem đó là một trong những yếu tố quan trọng của Văn hóa Việt Nam cần giới thiệu đến bạn bè năm châu. Mà cụ thể nhất là hình ảnh chiếc trống trường đã thể hiện được phần nào mô hình tổ chức giáo dục của đất nước ta.

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 68 - 72)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)