Trống là thành tố của các lễ hội dân tộc

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 72 - 82)

CHƯƠNG 3: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT

3.2. Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức lễ hội

3.2.1. Trống là thành tố của các lễ hội dân tộc

Có thể nói không lĩnh vực nào thể hiện đầy đủ chức năng của trống như lễ hội. Và cũng có thể nói rằng không gì thể hiện đầy đủ tinh thần của lễ hội bằng trống. Lễ hội gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần tín ngưỡng với mục đích là trình với thần linh, cầu xin và tạ ơn thần linh đã bảo trợ cho cuộc sống của dân làng.

Phần lễ có những nghi thức long trọng, uy nghiêm, được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, thống nhất: cáo, hiến tế, cầu xin, tạ ơn với sự tham gia của đông đảo dân làng. Lễ tạo ra cảm giác cộng mệnh của những người có cùng tín ngưỡng. Bằng cách đó, lễ làm tăng thêm tình cảm gắn bó cộng đồng làng xã. Phần hội gồm nhiều trò chơi giải trí có tính cộng đồng cao, cuốn hút nhiều người tham gia như: cướp cầu, thả lỗ, đánh đáo, đánh đu… Nếu như phần lễ là những nghi thức tôn kính, trang nghiêm thì phần hội ồn ào, náo nhiệt, hào hứng, cởi mở, vui chơi hết mình. Phần hội tạo không khí vui tươi, phấn khởi, hòa đồng, đoàn kết giữa những người dân trong làng. Bằng cách đó, hội góp phần củng cố tâm lý cộng đồng làng xã [Thùy Trang 2009: 20].

Thông thường, lễ hội nối kết nhau theo một tuần tự ổn định, gồm các bước:

lễ Rước nước (lấy nước tinh khiết về địa điểm tổ chức lễ hội), lễ Mộc dục (lau rửa

tượng, áo quần của thần), lễ Tế gia quan (mặc trang phục, rước thần lên bàn thờ), lễ Rước thần (rước thần từ nơi khác về địa điểm lễ hội), lễ Đại tế (lễ quan trọng nhất), lễ Hèm (tái hiện những nét đặc biệt của vị thần lúc sinh thời)… Đồng thời với lễ, hoặc thường là sau lễ, người ta tổ chức hội, tức là những trò chơi giải trí [Đinh Văn Hạnh – Phan An 2004: 50].

Từ lễ đến hội, cái trống đều góp mặt và đều đóng vai trò quan trọng. Về phần lễ, chúng tôi chủ yếu khảo sát lễ rước thần và lễ đại tế, vì đây là những lễ chính và quan trọng, thể hiện nổi bật vai trò của trống.

Trong các nghi lễ cúng tế của người Việt đều có mặt của hai đại nhạc khí là trống lớn và chiêng lớn. Bên cạnh đó là ban nhạc lễ. Ở miền Bắc, ban nhạc lễ được gọi là phường bát âm. Ban nhạc lễ Nam bộ được gọi là phường ngũ âm..

Bát âm có nguồn gốc từ Trung Hoa, là những âm thanh của các nhạc cụ tượng trưng cho tám thứ tiếng trong trời đất. Thời Lê Thái Tông, trong dàn nhạc cung đình xuất hiện lối cấu trúc dàn nhạc mới theo kiểu bát âm Trung Hoa. Dàn nhạc này gồm những nhạc cụ được chế tạo từ tám chất liệu khác nhau: mộc (gỗ), thạch (đá), thổ (đất), cách (da), trúc (tre, trúc), ti (tơ), kim (kim loại), bào (quả bầu).

Tuy nhiên, cho đến thế kỷ XX, dàn bát âm trong dân gian từ khu vực Huế trở ra chỉ giản đơn là một dàn nhạc gồm tám nhạc cụ - không tính tới số lượng các nhạc cụ cùng loại. Thông thường, cấu trúc một phường bát âm gồm: Bồng bộc, cảnh, sáo, nhị, hồ, tam, nguyệt, sênh tiền; hoặc bồng bộc, cảnh, sáo, nhị, hồ, líu, kèn, sênh tiền, hoặc trống con, cảnh, sáo, nhị, líu, tam, nguyệt, đàn đoán... [Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương 2007: 315].

Dàn ngũ âm gồm hai bộ phận: phe văn và phe võ. Phe văn chủ yếu gồm: các nhạc cụ dây chi kéo cung (cò chánh, cò lòn, cò líu...); các nhạc cụ dây chi gảy (kìm, sến, bàu, tranh..). Khi diễn tấu thường có một số nhạc cụ gõ đi kèm: trống nhạc, mõ, đầu, song lang... Phe võ gồm bộ kèn và các nhạc cụ bộ gõ thuộc hai họ màng rung và tự thân vang: cặp trống nhạc (còn gọi là trống đực – trống cái hay trống văn –

trống võ), trống cổ bồn, trống cơm, trống bồng, bạc xà, bạc nhỏ, tum, đẩu, đồng la [Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương 2007: 317].

Cặp trống – chiêng, đặc biệt là trống, đóng vai trò cm trch cho các đám rước và ch huy buổi tế lễ.

Một đám rước kiệu thường được tổ chức như sau: đi đầu là đội cờ, tiếp đến là trống cái và chiêng đại, rồi đến đội đồng văn, hai hàng chấp kích, phường bát âm, đội rước long đình (trong long đình có sắc thần, bài vị của các đối tượng được thờ cúng), đội nghi trượng hộ giá long đình (đi hai bên), sau cùng là đội tế và các bô lão, người dân trong làng.

Cặp trống – chiêng đi đầu dóng dả từng hồi vang dội từng con đường, góc phố để dẫn đường cho đám rước. Trống và chiêng mỗi cái được hai người khiêng, và có một ông thủ hiệu cầm dùi để đánh. Một tiếng trống vang lên lại điểm một tiếng chiêng. “Trống là thỉnh, chiêng nhại lại” [Hồ Thị Hồng Dung 2010]. Như vậy, tiếng trống mới là âm thanh chủ đạo. Trong “Lễ hội Việt Nam”, có đoạn miêu tả đám rước kiệu bà của hội làng Hòa Mục (Hà Nội) như sau: “Đi đầu thường là 10 lá cờ thần, một tấm biển hiệu dẫn đường, theo sau là trống cái, chiêng đại. Người đánh trống mặc võ phục, mỗi khi đánh trống tay vung dùi theo một thế võ, rồi đánh từng hồi nhịp nhàng để cầm chịch cho đám rước” [Lê Trung Vũ – Lê Hồng Lý 2005: 84].

Ngoài trống cái dẫn đầu đoàn rước, còn có sự hiện diện của chiếc trống khẩu (trống hai mặt, có tay cầm, đánh bằng một dùi), thường đi trước kiệu, do một người có chức sắc uy tín trong làng đánh. Trống khẩu điu khin đội khiêng kiu: đi, đứng, tiến, lùi, đổi vai, quay, đi nhanh, đi chậm và giữ thăng bằng… Vì vậy, trống này còn có tên gọi khác là trống lệnh. Ở hội làng Đăm, có tục rước ngai thánh ra ao đình xem bơi thuyền, Lê Hồng Lý có viết: “Kiệu đi thẳng từ chính ngự trong qua chính ngự ngoài tới đường làng trước mặt ao đình. Từ chính ngự trong ra chính ngự ngoài kiệu được nâng trên tay của các trai kiệu. Nhưng khi ra khỏi chính ngự ngoài, theo lệnh của trống khẩu, kiệu đặt lên vai để rước đi” [Lê Trung Vũ – Lê Hồng Lý 2005: 148].

Ngoài ra, trong các đám rước vùng Bắc Bộ còn có đội đồng văn, đội múa bồng và phường bát âm.

Đội đồng văn gồm một cai đồng văn và bốn người đồng văn. Cai đồng văn là người chỉ đạo, đánh trống khẩu. Bốn đồng văn đánh trống bản (trống hai mặt, có dây đeo, đánh bằng hai dùi). Cai đồng văn đánh

xướng bao nhiêu tiếng thì các đồng văn phải đáp trả lời bấy nhiêu. Nhịp trống có ba loại là nhịp một, nhịp ba và nhịp bốn. Đi cùng với đội đồng văn còn có đôi đĩ đánh bồng, là nét văn hóa độc đáo, mang bản sắc của vùng văn hóa Bắc Bộ. Đội đĩ đánh bồng làm cho đám rước sinh động hơn. Theo tục lệ xưa, nữ giới không được tham gia vào tế lễ thành hoàng, nên nam giới phải mặc giả nữ để vào múa đánh bồng. Hai chàng trai đóng giả gái, mặt đánh phấn, môi son, độn ngực, đi lại ẻo lả, nói năng ỏn ẻn. Họ mặc áo vải, chít khăn mỏ quạ. Đạo cụ của người múa là trống cơm đeo trước bụng. Đánh trống chỉ là cách điệu. Động tác múa phải theo nhịp của đội đồng văn [Hồ Thị Hồng Dung 2010].

Tiếp đến là dàn bát âm, trong đó tiếng trống hòa trộn với các nhạc khí khác tạo nên thần khí của buổi rước lễ.

Đám rước ở Nam Bộ cũng không khác mấy so với Bắc Bộ, cũng trống, chiêng, cờ, lọng, chấp kích, bát bửu, long đình... song điểm khác biệt là không có đội đĩ đánh bồng, dàn nhạc là dàn ngũ âm và đội ngũ đi theo kiệu có các đào thài, là những người của ban nhạc hát bội, sau khi tế lễ ở đình xong sẽ biểu diễn phục vụ người dân.

Sau khi đã rước ngai thần về nơi tế lễ thì cuộc tế lễ bắt đầu. Ba hồi chiêng trống vang lên báo hiệu bắt đầu vào lễ. Dứt ba hồi trống chiêng, dàn bát âm hay ngũ

29 http://blog.chaobuoisang.net/le-ruoc-nuoc-song-hong-1441.htm

Hình 3.2: Lễ hội rước nước sông Hồng29

âm bắt đầu khởi khúc nhạc dạo đầu. Sau đó, đông xướng và tây xướng phát lệnh tuần tế thứ nhất. “Trong khi tế lễ, trống là hiệu lệnh giúp cho các quan viên và người chấp lễ thực hiện nghi thức dâng lễ vật. Những người chấp lễ chỉ thực hiện sau khi người đông xướng và tây xướng hô cùng với tiếng trống điểm. Do đó, các bước đi đều được quy định bi tiếng trng. Trống lúc này như một thứ ngôn ngữ đặc biệt đối với người hành lễ và thần linh” [Nguyễn Đình Lâm]. Như vậy, cái trống đóng vai trò cực kỳ quan trọng là gi nhp cho bui tế l. Đó là hiệu lệnh cho người hành lễ thực hiện các nghi thức cúng tế. Mỗi tiếng trống quy định từng bước đi của người tế lễ. Mỗi bước đi thật trang nghiêm và cung kính. Nếu trên kia, tiếng trng dn đường cho đám rước thì đây, tiếng trng dn đường cho tâm linh. Nó là trung gian giữa trời đất, là ngôn ngữ giao tiếp của con người với thần linh, gửi niềm khát khao, mong mỏi của con người đến những đấng ban phước lành. Vai trò linh thiêng này của trống thể hiện rất rõ trong nghi lễ Xây chầu – một nghi lễ quan trọng của ngày lễ Kỳ yên ở các đình Nam Bộ.

Trống chầu sơn màu đỏ, đặt theo hướng đại lợi, mặt trống vẽ hình tròn âm dương, trên phủ tấm vải đỏ. Trống phủ vải đỏ tượng trưng cho vũ trụ đang ở tình trạng hỗn mang. Việc mở tấm vải đỏ và đánh trống chầu là nhằm khai thông thái cực, đổi mới đất trời. Nghi lễ tiến hành được Huỳnh Ngọc Trảng mô tả như sau:

Trước khi hành lễ, chấp sự viên làm lễ thỉnh roi chầu rồi bước ra sân khấu, đến chỗ đặt trống chầu, đốt hương khấn vái các thần linh đến chứng giám buổi lễ, đồng thời đốt lá bùa tứ tung ngũ hoành để trấn áp tà ma, xong đến trước trống chầu, mặt nhìn về

hướng đại lợi. Sau khi lễ sinh hô: “Phế cân”, chấp sự viên lấy khăn khỏi mặt trống, Hình 3.3: Trống chầu trong lễ Xây chầu

Nguồn: Tác giả

lau sơ mặt trống rồi lấy khăn đỏ quấn vào roi chầu, để hở một đầu. Sau nghi lễ này là đến phần đánh trống. Phần này chia làm hai lần gọi là đệ nhất cấp và đệ nhị cấp.

Ở đệ nhất cấp, chấp sự viên đánh ba hồi trống ở ngoài bìa mặt trống, mỗi hồi ba tiếng. Mỗi hồi trống này gọi là kích cổ. Đánh trống kèm theo lời cầu nguyện.

Nhất kích cổ: Thiên linh giáng phước Nhị kích cổ: Địa sát trừ ương

Tam kích cổ: Lê thứ thái bình

Ở đệ nhị cấp, chấp sự viên cũng đánh ba hồi, tiếng trống đánh mạnh, nghe lớn và đánh ở hình thái cực giữa mặt trống. Ý nghĩa của sự đánh mạnh ở đây là khai thông thái cực.

Nhưng trước khi đánh mạnh ở thái cực, chấp sự viên đánh nhẹ ở thái cực ba hồi trống, mỗi hồi ba tiếng. Hai hồi đầu đọc lời chú để trấn ếm, hồi thứ ba đọc lời cầu nguyện. Mỗi hồi này gọi là điểm cổ.

Nhất điểm cổ: Trừ Càn – Khảm (trừ sự bại, sự hư)

Nhị điểm cổ: Lập Trung Cân Chấn (cô lập sự khóc lóc, sự chết, quỷ) Tam điểm cổ: Tốn Ly Khôn Đoài (xin cho báu, lộc, phúc đức)

Sau đó, chấp sự viên bắt đầu đánh ba hồi trống, đánh mạnh, trước ít sau nhiều gọi là đánh “tiền bần hậu phú”, có ý nghĩa cầu xin cho dân làng ngày càng giàu thịnh. Kết thúc ba hồi trống này là kết thúc lễ Xây chầu [Theo Huỳnh Ngọc Trảng 1993: 161-166].

Như vậy, qua lễ Xây chầu, con người mượn âm thanh của tiếng trống để kết nối con người với đất trời. Ba nhân tố trời – đất – người không thể tách rời mà hợp nhất để hình thành vũ trụ. Tiếng trống vốn từ trong cội nguồn văn hóa Việt Nam đã được đồng nhất với âm thanh thiêng liêng của tạo hóa là tiếng sấm, nên bản thân nó có một nguồn sức mạnh thiêng, có khả năng khai thông đất trời, kết nối với thần linh, làm cho thiên hạ thái bình, mùa màng tươi tốt.

Sau phần lễ gắn liền với tiếng trống lễ thì đến phần hội tưng bừng với tiếng trống hội. Cũng là tiếng trống mà thôi nhưng sao trong tế lễ uy nghiêm trang trọng là thế, chuyển sang hội lại tưng bừng, rộn rã thế kia. Người người nô nức đi xem hội. Cái phần tâm linh đã được an bài xong thì cái nhu cầu vui chơi cũng cần phải được thỏa mãn. Hơn nữa, hội không chỉ thuần túy là vui chơi, mà nó cũng góp phần củng cố cho phần nghi lễ thuộc về tâm linh trước đó của con người. Những trò chơi cũng thể hiện rõ tín ngưỡng của người dân cùng những ước mong, khao khát được bình yên, no ấm.

Trò chơi hội rất phong phú và đa dạng, tùy theo tính chất của từng lễ hội cũng như điều kiện của từng làng. Ví dụ như lễ hội cầu mưa thì sẽ có thi bơi chải, bơi thuyền. Lễ hội cầu mùa thì có thi nấu cơm, làm bánh. Lễ hội tưởng nhớ các anh hùng dân tộc thì có những màn diễn tập lại trận đánh, đấu cờ người… Ngoài ra là những trò chơi dân gian quen thuộc và phổ biến: ném còn, thi bắt chạch trong chum, thi bắt vịt, đấu vật… Tất cả các trò chơi, bao giờ cũng có tiếng trống tiếng chiêng làm hiệu khai hi. Rồi tiếng trống lệnh ch huy. Rồi tiếng trống dồn dã c vũ, thúc giục… Tiếng trống hòa với tiếng mõ, thanh la, não bạt… vang lừng cả một góc trời.

Lấy hội đua thuyền làng Võ Giàng, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, tổ chức vào rằm tháng 2 âm lịch, làm ví dụ: Trước ngày rằm, trai làng nô nức sửa lại thuyền đua. Đúng ngày hội, dân chúng kéo ra đứng chật hai bên bờ sông. Dứt hồi chiêng trống, các tay bơi chít khăn đỏ, mỏ rìu, mình trần đóng khố tay cầm bơi chèo hăm hở bước xuống thuyền. Các thuyền đua bơi ra giữa sông dàn hàng ngang chờ lệnh. Mỗi thuyền có một thủ lĩnh, đầu chít khăn đỏ, thắt lưng đỏ, quần xanh, tay cầm chiêng lệnh. Chủ hội đánh trống, phất cờ hiệu. Các tay bơi thúc đầu mái chèo xuống nước, đều đặn theo nhịp chiêng của thủ lĩnh đónh ở đầu thuyền. Người xem đứng ở hai bờ hò reo cổ vũ [Nguyễn Tế Nhị - Hoàng Phú 1984].

Hay như ở hội chiếu làng Hới có cuộc thi dệt chiếu. Hi trng hiu vừa dứt, các tay thợ thoăn thoắt trao gon, dập go… từng tấc chiếu được nối dài thêm trong tiếng trng đổ dn cùng tiếng c vũ của hàng ngàn người dự hội. Cái âm thanh ấy

sẽ kéo dài vô tận nếu không có hi trng báo gi “np bài”. Trong tiếng vỗ tay vang dậy của cả tổng Thanh Triều, ban giám khảo trao giải thưởng cho cặp thợ có lá chiếu đẹp nhất [Vũ Ngọc Khánh 2010: 345].

Còn ở hội Đại làng Nành, ngoài các trò chơi như: đấu vật, đánh cờ người, thi chọi gà, thi nấu cơm… thì có một trò nổi bật, đáng chú ý nhất là trò nâng cây phan.

Cây phan là một bó gồm khoảng 60 cây tre để nguyên cây và ngọn, được bó lại bằng 8 vòng đai làm bằng cật tre, trên ngọn treo một lá cờ đỏ. […]. Để cho trò nâng cây phan bắt đầu thì có cuộc rước ngựa và các nữ tướng, một vòng quanh cây phan, rồi sau 3 hồi 9 tiếng trống trang nghiêm của người chỉ huy (gọi là tổng cán) vừa dứt, thì những trai đinh nâng cây phan (gọi là phù giá) nhất loạt giơ gậy lên, đợi đến 9 tiếng trống điểm, tất cả cùng reo à lên và cùng lấy đầu gậy có buộc chạc ba, nâng cây phan từ từ. Sau đó, theo tiếng trống, những phù giá đảo cây phan. Cây phan được quay (đảo) 3 vòng từ đông sang tây và từ phải sang trái. Khi đảo làm sao cho lá cờ trên cây phan vẫn bay phấp phới, không cuốn lại và đặc biệt hơn là trong quá trình đảo cây phan, tuyệt đối không ai để tay chạm vào cây phan, nếu không họ sẽ bị dân làng chê cười và phải làm lễ giải hung. Trò nâng cây phan được coi là trung tâm của hội Đại làng Nành, sự ấm no, yên vui và mùa màng tươi tốt của một năm dường như gắn chặt với tài nghệ nâng cây phan trong hội lễ này, và khi trò vui này kết thúc, các trò vui khác mới được bắt đầu [Vũ Ngọc Khánh 2011: 358].

Đó là các trò vui có sự tham gia của cái trống như một người chỉ huy, hay một đội cổ vũ, ngoài ra còn những hội có hẳn những cuộc thi đánh trống, múa trống… Lúc này cái trống và người chơi trống trở thành tâm điểm của sự chú ý.

Chẳng hạn, ở hội làng Keo, được tổ chức vào ngày 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch có cuộc thi trống vào tối ngày 13. Người thi trống phải đánh phối hợp được 3 loại trống: trống cơm đeo ngang ngực, trống bản đeo dưới bụng, bên sườn trái kẹp trống bầu. Người đánh trống không lẫn nhịp, âm thanh từng loại trồng đều chuẩn, đánh phối hợp cả ba loại trống âm thanh không bị rã thì được giải từ 1 đến 3 quan tiền [Vũ ngọc Khánh 2010: 348].

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 72 - 82)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)