Trống là thành tố của các lễ hội tôn giáo

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 82 - 86)

CHƯƠNG 3: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT

3.2. Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức lễ hội

3.2.2. Trống là thành tố của các lễ hội tôn giáo

Các tôn giáo cũng sử dụng trống trong các nghi lễ quan trọng của mình. Phật giáo coi trống là một pháp khí quan trọng của chốn thiền môn, giúp thức tỉnh con người thoát khỏi mê lầm. Giáo sư Trần Văn Khê giải thích: Nét khác nhau trong âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc là nhạc không phải để... biểu diễn mà gắn liền với câu kinh tạo nên trạng thái tâm hồn tĩnh lặng, để sẵn sàng đón nhận và thấm nhuần giáo lý Phật giáo một cách sâu sắc. Như tiếng trống trong âm nhạc Phật giáo chẳng hạn, là tiếng trống đánh theo câu kệ. Nghe tiếng trống sẽ “đáo bĩ ngạn”, sẽ đi từ bờ mê đến bến giác (giác ngộ).

Nói đến vai trò và ý nghĩa của tiếng trống chùa, người ta hay nhắc đến hồi trống Bát nhã. Sở dĩ gọi là Bát-nhã (phiên âm của chữ “prajnaa” (S) có nghĩa là “trí tuệ”) vì công năng của chúng là để thức tỉnh lòng người, có khả năng đánh động tâm linh của người nghe.

Đặc tính của Bát nhã:

- Thật tướng Bát nhã là Chân Tánh.

- Danh tự Bát nhã là Chân tướng.

- Vị thế Bát nhã là Chân thường.

- Dụng (khởi) Bát nhã là Trí Tuệ.

Trống Bát nhã thường đánh lên vào những buổi lễ pháp sự đặc biệt, như thuyết pháp, truyền giới, Sám hối…

Cách đánh Trống Bát-nhã và ý nghĩa biểu trưng:

Mới đầu đánh nhập 2 tiếng: Mời đại chúng: Tăng, Ni và Phật tử nhập lễ.

Đánh 3 tiếng, mỗi lần 1 tiếng: tượng trưng cho sự cúi đầu quy y TAM BẢO, nguyện dứt trừ tam độc: tham, sân si.

Đánh 7 tiếng tượng trưng cho BÁT NHÃ HỘI THỈNH PHẬT THƯỢNG ĐƯỜNG, tức tác pháp thỉnh Phật thăng tòa.

Đánh 8 tiếng tượng trưng cho câu “Maha Prajnaparamita | MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA” hoặc BÁT NHÃ HỘI THỈNH PHẬT LAI CHỨNG MINH, tức tác pháp thỉnh Phật chứng minh.

Cuối cùng đánh dứt 4 tiếng: tượng trưng cho chứng nhập TỨ ĐẾ [Thích Giác Duyên 2010].

Như vậy, “ngoài âm vang của tiếng trống cảnh tỉnh khách trần ra, nó còn nói lên một ý nghĩa đặc thù siêu việt. Mục đích là nhằm nhắc nhở mọi người cần phải trang bị cho mình có đầy đủ trí huệ sáng suốt. Vì trí huệ rất là quan trọng. Dù hành giả tu bất cứ pháp môn nào, mà thiếu trí huệ chỉ đạo, thì coi như sự tu hành không có kết quả tốt đẹp. Nếu không có trí huệ sáng suốt để biện biệt chánh tà, chân ngụy, thì trong khi ứng dụng tu hành, chúng ta dễ bị sai lệch và đi vào con đường tà ngoại.

Vì Bát nhã quan trọng như thế, nên chư Tổ mượn hình thức cái trống, để khi đánh lên nhằm thức nhắc mọi người tăng cũng như tục phải luôn nhớ đến cái trí Bát nhã sẵn có ở nơi chính mình. Trí Bát nhã này, còn gọi là Vô sư trí. Nhưng muốn nhận ra cái Vô sư trí này, hành giả cần phải nương cái trí hữu sư, tức cái trí do học hỏi ở nơi thầy bạn mà có được” [Thích Phước Thái 2008].

Hồi trống Bát Nhã luôn được đánh xen với đại hồng chung, gọi chung là hồi chuông trống Bát Nhã. Ngoài ra, trong những ngày lễ lớn của Phật giáo như: Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan… bên cạnh chuông trống Bát nhã, nhà chùa còn mời dàn nhạc

từ bên ngoài vào, thường thấy nhất là đội lân, sư, rồng để phục vụ cho chương trình lễ hội thêm phần long trọng và vui tươi, thể hiện tinh thần hòa nhập với cuộc sống, hòa nhập với đời, phù hợp với văn hóa chung của dân tộc của Phật giáo.

Hình 3.6: Khởi động ba hồi chuông trống Bát Nhã để bắt đầu cho lễ cầu nguyện32

3.2.2.2 Trng trong nghi l Công giáo

Cái trống cũng tham gia vào các nghi lễ, hội lễ quan trọng của Công giáo như: lễ ngắm 15 mầu nhiệm, múa hát dâng hoa cho Đức Mẹ, hay lễ kỷ niệm thánh quan thày xứ đạo…

Lễ ngắm 15 mầu nhiệm thương khó được bắt đầu vào Thứ Năm Tuần Thánh.

Ngày này được tổ chức rất trọng thể… Đội ngắm gồm 15 người để mỗi người đảm nhận một ngắm… Khoảng trên 10 người phục vụ cho nghi lễ ngắm. Bao gồm vài người cầm cờ và bát bửu có nhiệm vụ rước quan viên; phường trống con gồm 4

32 http://gdpttunghiem.com/category/hoi-dap-phat-phap

hoặc 6 người; một người cầm trống khẩu ra lệnh; hai bồi tế đứng dưới bàn thờ, một đứng bên tay phải mở sách, một bên tay trái cầm mõ hay trắc làm hiệu lệnh [Nguyễn Hồng Dương 2001: 106].

Múa hát dâng hoa tổ chức trong tháng Năm – Tháng Đức Bà – Tháng Hoa…

Đạo cụ phục vụ cho múa hát thật đơn giản, đó là quạt giấy, trống chầu và kiệu hoa… Đúng giờ lễ, tiếng chuông nhà xứ đổ hồi, kiệu hoa được các con hoa nâng lên vai… Ca đoàn gồm những nam thanh nữ tú hát vang bài ca ngợi Đức Maria. Tiếp theo là hội kèn, hội trống (có xứ họ đạo không có cả hai hoặc chỉ có 1 loại hội này).

Hội kèn thổi điệu hành khúc trầm hùng cùng tiếng trống với nhiều loại thanh la, não bạt, cồng rộn rã [Nguyễn Hồng Dương 2001: 124].

Lễ kỷ niệm thánh quan thày được tổ chức long trọng như một ngày lễ hội lớn của các xứ đạo. Trước thánh lễ là một cuộc đi kiệu. Ở những làng giáo xứ đạo cổ là kiệu vàng, trên đó là ảnh hoặc tượng thánh gia (gia đình Chúa Giê-su), tượng Chúa hoặc tượng đức Maria. Đi trước kiệu có ban nhạc Nam (bát âm – nhạc cổ truyền người Việt), ban nhạc Tây (kèn đồng…), một số hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như múa trống, múa mõ, múa trắc, đi kheo… cùng hành tiến trước kiệu.

[Nguyễn Hồng Dương 2001: 181].

Sự góp mặt của trống trong nghi lễ và lối sống Công giáo ở Việt Nam tạo nên điểm khác biệt cho tôn giáo này, so với xuất xứ phương Tây của nó. Có thể xem đó như một phần yếu tố Việt hóa của văn hóa bản địa đối với văn hóa ngoại lai.

Nhìn chung, dù cho đó là những lễ hội của tôn giáo, vốn dĩ là những tôn giáo ngoại lai, vì bản thân người Việt từ xa xưa chỉ có tín ngưỡng thờ thần và tổ tiên mà thôi, nhưng chúng ta cũng nhận thấy đó là những lễ hội thấm đẫm tinh thần Việt.

Bởi lẽ các tôn giáo khi truyền vào Việt Nam đã bị Văn hóa Việt Nam khúc xạ và trở thành một phần của nền văn hóa này. Trong khi đó, cái trống lại là một thứ vật dụng đặc biệt của người Việt, vừa là nhạc khí, vừa là linh khí, vừa là “binh khí”. Điều này có nghĩa là cái trống đóng vai trò rất quan trọng trong văn hóa Việt Nam, như một phần tất yếu, cho nên, không có gì khó hiểu khi xem cái trống là một trong những

yếu tố Việt hóa đối với các văn hóa ngoại lai như Công giáo. Sự xuất hiện của những chiếc trống dân tộc nói riêng, dàn nhạc dân tộc nói chung trong các lễ hội tôn giáo lớn ở Việt Nam chính là thể hiện tinh thần hòa hợp văn hóa giữa nội và ngoại, giữa đạo và đời.

Ở Việt Nam, lễ hội chính là thời điểm mà trống phát huy tính đa năng của nó ở mức cao nhất. Nhờ có nó, lễ hội của người Việt nói riêng của dân tộc Việt Nam nói chung diễn ra được suôn sẻ, trang trọng, tươi vui, và con người gần gũi, gắn kết với nhau hơn bởi lẽ họ có cùng chung một thứ âm thanh để hướng về là tiếng trống.

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 82 - 86)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)