CHƯƠNG 3: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT
3.3. Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức biểu diễn nghệ thuật
Nghệ thuật biểu diễn từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của con người. Đó là một hoạt động giải trí mang ý nghĩa lớn lao trong việc bồi dưỡng tâm hồn, mang lại cho con người những giây phút thăng hoa trong cuộc sống. Cùng mang một ý nghĩa như thế, tuồng, chèo, ca trù cũng đã sống trong lòng dân tộc ta tự bao đời. Âm nhạc của các bộ môn nghệ thuật này cũng đã thấm sâu vào hồn của biết bao người Việt Nam, đến nỗi mỗi khi âm nhạc của chúng vang lên, người ta không thể ngồi yên chờ đợi. “Nghe giục trống chầu đâm đầu mà chạy”. “Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem”… là có ý nói đến âm nhạc của những môn nghệ thuật này một khi đã cất lên thì người ta không thể nào cưỡng lại nổi sức hấp dẫn của nó.
Mà đóng vai trò quan trọng trong những dàn nhạc này chính là cái trống. Đó cũng là lý do vì sao chúng tôi chọn khảo sát ba bộ môn nghệ thuật này. Nếu nhìn một cách tổng quát thì ca, hát, múa, nhảy đều cần âm nhạc, mà dàn nhạc thì hiếm khi nào thiếu trống. Do vậy, cái trống có mặt trong rất nhiều hình thức sinh hoạt giải trí của người Việt. Ở đây, chúng tôi chọn nghiên cứu cái trống trong tuồng, chèo và ca trù vì đây là những môn điển hình mà trong đó, cái trống mang một vị trí nghệ thuật hết sức đặc biệt, đó là đảm nhiệm vai trò sáng lập. Dân gian có câu “phi trống bất thành tuồng” chính là nói đến vai trò quan trọng này của trống. Không có trống sẽ không có tuồng. Cả chèo và ca trù cũng vậy, nếu không có tiếng trống đế hay tiếng trống chầu “tom chát” thì liệu có còn chèo, có còn ca trù hay không?
3.3.1. Cái trống trong sân khấu tuồng
Trong sân khấu tuồng sử dụng khá nhiều trống, trong đó quan trọng nhất là trống chiến và trống chầu.
Trống chiến
Trống chiến là loại nhạc cụ thuộc họ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt. Tang trống làm bằng gỗ mít cao khoảng 34cm. Mặt trống có đường kính 32cm, bưng bằng da trâu, dùi trống làm bằng gỗ găng [Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương 2007 : 222]. Trống chiến là trụ cột của dàn nhạc sân khấu tuồng.
Trống dẫn dắt dàn nhạc vào bài, tăng giảm tốc độ
(nhanh, chậm), tăng giảm cường độ (to, nhỏ), giữ nhịp cho nhạc công đàn và diễn viên hát, chuyển tiếp, dừng lại (dứt). Sự dẫn dắt đó thông qua tín hiệu của trống (tất nhiên những tín hiệu ấy đã được các nhạc công quen thuộc). Nhưng lúc nào vào ra, lúc nào tăng giảm tốc độ và cường độ, lúc nào dừng lại hay chuyển tiếp sang làn bản gì thì nhạc công phụ thuộc vào tín hiệu của trống, nhạc công đánh trống phụ thuộc vào diễn viên trên sân khấu và diễn viên thì không phụ thuộc theo quy định về phách nhịp, câu đoạn của âm nhạc (người diễn mỗi lần mỗi khác theo cảm hứng hoặc do điều kiện của sức khỏe hay vì không gian rộng hẹp của sàn diễn) [Đào Duy Kiền – Nguyễn Gia Thiện 2007: 33].
Trống chiến có khả năng diễn tả mọi trạng thái tình cảm vui, buồn, giận dữ, trang nhã...; mô phỏng tiếng động trong thiên nhiên (mưa gió, nước chảy, lửa cháy...), bước đi của người, nhịp chạy của ngựa.... Trong những khả năng phong phú ấy, điều nổi trội lên là sự mạnh mẽ, hùng tráng, sôi động, thôi thúc mang tính chiến đấu cao. Chính vì vậy mà trống mang tên là trống chiến [Đào Duy Kiền – Nguyễn Gia Thiện 2007: 32].
33 http://vietnamcayda.com/diendan/showthread.php?8397-54-ng%C3%B4n-ng%E1%BB%AF-%C3%A2m- nh%E1%BA%A1c-Vi%E1%BB%87t-Nam/page7
Hình 3.7: Trống chiến33
Vì trống chiến giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong sân khấu tuồng nên người đánh trống cũng rất được tôn trọng. Người ta tôn nhạc công đánh trống là
“phó sư”, quan trọng chỉ sau ông bầu mà thôi.
Để đảm đương vị trí, chức năng của một “phó sư”, nhạc công đánh trống tuy không là diễn viên nhưng phải biết thể thức hát, múa, biểu diễn tuồng để điều khiển dàn nhạc hỗ trợ và còn ứng biến nhạc để đưa hơi, giúp sức, ăn khớp với sự co dãn về diễn xuất tùy theo cách thể hiện mỗi nhân vật [Đào Duy Kiền – Nguyễn Gia Thiện 2007: 33].
Trống chầu
Trống chầu cũng là một nhạc cụ nhưng không nằm trong biên chế dàn nhạc mà ở phía người xem (khán giả), nghĩa là nhạc công không đánh trống chầu mà người đại diện khán giả mới được cầm chầu. Trống chầu dùng trong dàn nhạc tuồng cũng “tương tự trống cái nhưng được làm công phu hơn. Trống được bịt da trâu hai mặt, đường kính khoảng 50cm. Tang trống bằng gỗ mít cao khoảng 50cm” [Theo Võ Thanh Tùng 2001: 325]. Người cầm chầu không phân biệt sang hèn,
nhưng phải là người có uy tín và biết cách thức đánh trống chầu.
Tác dụng chính của trống chầu là cổ vũ cho nghệ sĩ khi biểu diễn, gây không khí sôi động cho buổi diễn tuồng, chấm phẩy câu hát để đưa hơi giúp sức cho diễn viên, trợ đỡ làm lấp đi những sơ suất nếu có xảy ra trên sân khấu. Ngoài ra, trống chầu còn phối hợp với dàn nhạc để thực hiện các thể thức cần thiết như: khai tràng (khai diễn), kết thúc (hạ màn) [Đào Duy Kiền – Nguyễn Gia Thiện 2007: 44]. Với vai trò này, người ta dựa vào tiếng trống có thể biết đây là lúc nào của vở tuồng, mở màn hay kết thúc. Nghe tiếng trống chầu rục rịch là bà con mê tuồng cứ như là kiến cắn phải chân, không đi được.
34 http://www.trongdoitam.net/trong-doi-tam/trong-chau/192.html
Hình 3.8: Trống chầu34
Đặc biệt hơn hết, trống chầu còn có chức năng rất quan trọng là khen thưởng và khiển trách. Nghệ sĩ nếu diễn và hát hay vừa vừa thì chỉ đánh một tiếng “thùng”
ngay giữa mặt trống. Khá hơn thì đánh hai tiếng gọi là “chầu đôi”, xuất sắc thưởng ba tiếng gọi là “chầu ba”. Khiển trách, phạt: đánh ngoài bìa (dăm) trống nghe tiếng
“tang”. Lỗi nặng, cảnh cáo: gõ vào vành (tang) trống nghe tiếng “cắc” [Lê Văn Chiêu 2008: 145].
3.3.2. Cái trống trong sân khấu chèo Trong sân khấu chèo quan trọng nhất là chiếc trống đế. Đúng như tên gọi, trống đế làm nhiệm vụ đế, có nghĩa là lót, là chỗ dựa, làm điểm xuyết cho diễn viên khi biểu diễn và ca hát.
Trống đế có hai mặt hình tròn, đường kính khoảng 15cm, bưng bằng da trâu. Tang trống cao khoảng 18cm, khoét từ một khúc gỗ mít (gọi là tang liền). Dùi trống làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 25cm, một đầu to một đầu nhỏ.
Trống đế được coi là nhạc khí gõ cao âm quan trọng, không thể thiếu trong sân khấu chèo truyền thống. Một dàn nhạc trong hát chèo cần có sáo, nhị và trống.
Dàn nhạc có thể thiếu sáo hoặc nhị nhưng không thể thiếu trống. Không có trống đế thì không thể gọi là chèo được. Người hát có thể hát không hay nhưng nếu người đánh trống mà giỏi, khéo đưa, đẩy, vào nhịp thì nó sẽ đỡ, sẽ “bao che” cho giọng hát đó, và người nghe cũng không cảm thấy khó chịu [Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương 2007: 231].
35 http://vietnamcayda.com/diendan/showthread.php?8397-54-ng%C3%B4n-ng%E1%BB%AF-%C3%A2m- nh%E1%BA%A1c-Vi%E1%BB%87t-Nam/page8
Hình 3.9: Trống đế35
Giáo sư Trần Văn Khê cho biết, do trống đế là nhạc khí chủ đạo nên người đánh trống đế gần như là chỉ huy dàn nhạc. Người đánh trống càng tinh tế tài hoa thì diễn viên và dàn nhạc càng hứng thú và hiệu quả buổi diễn sẽ càng cao.
3.3.3. Cái trống trong bộ môn ca trù
Trong ca trù cũng có trống chầu nhưng không phải là loại trống chầu to như trong hát tuồng mà trống chầu trong ca trù giống như trống đế trong chèo.
Người đánh trống chầu, không chỉ thuần túy đánh nhịp mà còn nhằm nhận xét, khen chê.
Người đánh trống chầu phải là người thật am hiểu ca trù và thông thạo lề lối đánh trống, hễ đoạn nào ả đào (diễn viên) hát hay sẽ ngợi khen bằng cách gõ một bên tang trống gọi là chát, hoặc đánh giữa mặt trống gọi là tom (vì thế dân gian còn gọi việc đi nghe hát ca trù là thú tom
chát). Có nhiều khổ trống dùng để khen giọng hát, tiếng đàn mang tên đầy thi vị như song châu, liên châu, xuyên tâm, phi nhạn …
Trên thế giới không có nơi nào có tiếng trống có nhiều cách đánh để bày tỏ sự khen ngợi như vậy, với nhiều công thức khác nhau như khen trước khi dứt câu khác với sau khi dứt câu, cách khen tiếng đàn cũng khác với khen giọng hát [Trần Văn Khê 2010: Phụ lục, 122].
Nhìn chung, trống là một nhạc cụ quan trọng và cốt cán trong nhiều dàn nhạc dân tộc. Âm nhạc Việt Nam nói chung không thể thiếu vai trò của trống. Nếu nói nghệ thuật thanh sắc Việt Nam thể hiện rõ tính linh hoạt của văn hóa nông nghiệp [Trần Ngọc Thêm 2006: 310] thì âm nhạc là một bộ phận quan trọng thể hiện khá rõ đặc trưng này của văn hóa ứng xử của người Việt. Trong đó, các dàn nhạc sân khấu dân tộc tuồng, chèo, và môn nghệ thuật ca trù là những ví dụ điển hình nhất. Và ở
36 http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/318180/Dau-dau-tieng-trong-chau-tom-chat.html
Hình 3.10: Trống chầu trong dàn nhạc Ca trù36
đó, thông qua cái trống và vai trò của nó, chúng ta thấy tính linh hoạt của người Việt hiện lên rõ nét.
Nếu ở phương Tây, các nhạc công phải chơi nhạc “theo những quy định đã được ghi sẵn trong bản phổ” [Lê Vinh Hưng 2010], không được ứng tác ngẫu hứng với các bài bản thì ở phương Đông, nghệ sĩ “diễn tấu theo kiểu bè tòng trên cơ sở lòng bản cho trước, tức hứng và có thể biểu diễn tức hứng trong hòa tấu cũng như độc tấu và kể cả trong thanh nhạc” [Lê Vinh Hưng 2010]. Âm nhạc truyền thống của người Việt “không đòi hỏi mọi nhạc công phải chơi giống nhau, chỉ cần bắt đầu và kết thúc giống nhau và chơi theo hơi quy định, còn ở các phách giữa thì mỗi nghệ nhân có thể bộc lộ hết tài năng của mình” [Trần Ngọc Thêm 2006: 310].
Theo Mịch Quang, trong dàn nhạc tuồng, bộ trống là bộ phận linh hoạt nhất, mang nhiều tính chất sáng tạo nhất và cũng là bộ phận đầu não. Trống tuồng từ xưa đã có những điệu cơ bản, gọi là các bài nhịp trống. Nhạc sĩ trống cần nắm vững các bài cơ bản ấy để sử dụng thật linh hoạt vào phụ họa sân khấu, biến hóa các bài cơ bản ấy thành những bài trống riêng biệt cho từng vở tuồng, từng tình huống riêng biệt cụ thể [Mịch Quang 1963: 114].
Thêm nữa, tính linh hoạt còn thể hiện ở chỗ sân khấu truyền thống có sự giao lưu mật thiết với người xem, trong khi sân khấu phương Tây lại luôn luôn đẩy người xem ngồi ra xa sân khấu và không hề có sự giao lưu với khán giả [Trần Ngọc Thêm 2006: 310]. Trong âm nhạc phương Tây, khán giả chỉ đơn thuần là người xem, người nghe, còn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, khán giả có thể tham gia vào phần trình diễn. Sự giao lưu này thể hiện rất rõ qua tiếng trống chầu. Trong tuồng, người cầm chầu là người đại diện cho khán giả, nhưng không phải bất cứ khán giả nào cũng có thể cầm chầu mà phải là người am hiểu nghệ thuật tuồng, biết khen chê đích đáng. Người đánh chầu vừa đóng vai trò đại diện và hướng dẫn người xem, vừa đóng vai trò cổ vũ khích lệ người biểu diễn. Những người đánh chầu giỏi cũng được khán giả quý như người diễn viên giỏi. Cái roi trống của họ đóng vai trò là “ngọn roi phê bình” [Mịch Quang 1963: 115], có tác dụng thúc đẩy nghệ thuật.
Riêng cái trống chầu của ca trù còn linh hoạt hơn, vừa là nhạc cụ của dàn nhạc, có vai trò giữ nhịp cho dàn nhạc, vừa là tiếng nói của khán giả, bày tỏ sự đánh giá của người thưởng thức. Người cầm chầu vừa là diễn viên biểu diễn nghệ thuật, vừa là khán giả đánh giá nghệ thuật.
Nói tóm lại, cái trống đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc. Nó là linh hồn của nghệ thuật sân khấu, vai trò của nó không nhạc cụ nào có thể thay thế được, bởi lẽ trống quá đa năng.
Trống mời gọi người ta đến xem biểu diễn, nghe hát. Trống báo hiệu các màn, các lớp, các tiết mục diễn xuất. Trống chỉ huy dàn nhạc. Trống dẫn dắt vở diễn. Trống mô phỏng đủ mọi âm thanh, thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc. Trống cổ vũ diễn viên, đỡ lời, đưa hơi cho người hát. Trống khen, chê, thưởng, phạt. Trống tổ chức buổi trình diễn, tạo sự giao lưu không ngừng giữa diễn viên và khán giả, thể hiện tính linh hoạt của âm nhạc Việt Nam nói riêng, của truyền thống văn hóa gốc nông nghiệp nói chung. Chính tiếng trống đã ươm mầm cho tình yêu nghệ thuật của người Việt.