Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức quân sự

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 92 - 97)

CHƯƠNG 3: CÁI TRỐNG TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT

3.4. Cái trống phản ánh văn hóa tổ chức quân sự

Với âm thanh hào hùng như sấm vang sét dậy, cái trống được người xưa sử dụng trong chiến trận như một thứ hiệu lệnh xung trận, có tác dụng làm dậy lên tinh thần chiến đấu của binh sĩ, đồng thời làm bạt vía kẻ thù. Trong các cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của người Việt xưa nay chưa hề thiếu âm thanh của trống.

Người Việt cổ ra trận có tiếng trống đồng làm hiệu lệnh – thứ âm thanh đã trở thành nỗi ám ảnh của quân thù:

Kim qua ảnh lý đan tâm khổ

Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh (Trông bóng giáo mác lòng đau khổ Nghe tiếng trống đồng bạc cả tóc)

Trên đây là hai câu thơ của Trần Phu, sứ thần nhà Nguyên sang Việt Nam vào thế kỷ XIII, đã ba lần bị nhà Trần đánh cho thảm bại. Tiếng trống đồng uy linh là vậy. Nhiều cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ phương Bắc của nhân dân ta đều có sử dụng trống đồng. Trong đó, tiếng trống đồng oai hùng của Hai Bà Trưng đã đi vào lòng dân chúng Việt Nam như một huyền thoại: Tiếng trống Mê Linh.

Đến đời Đinh Tiên Hoàng, quân nhạc Việt Nam đã định hình. Có hẳn một cuốn sách dạy phép đánh trống gọi là “Đả cổ lục”. Phép đánh trống này do Huyền nữ Phạm Thị Trân37 dạy cho quân lính nhà Đinh, được dùng để cổ vũ tinh thần chiến đấu của binh lính: “Chinh tùng chinh, chinh tùng chinh. Bất diệt thù hề, bất nguyện sinh (Đi chiến đấu, đi chiến đấu. Không diệt được giặc, không thèm sống).

Về sau, trống đồng không còn được sử dụng nữa, nhưng tiếng trống trận vẫn tiếp tục vang lên đánh đuổi kẻ thù. Tiếp nối tiếng trống đồng đầy uy lực, những chiếc trống thân gỗ, mặt bịt da trâu lại đánh lên những hồi hùng tráng làm khiếp vía quân thù. Một dấu son chói lọi cho vai trò của trống trong lịch sử quân nhạc dân tộc chính là nhạc võ Tây Sơn.

Tương truyền, bộ môn nhạc võ do ba anh em nhà Nguyễn Huệ sáng tạo ra, nhạc pháp gọi là

“Song thủ đả thập nhị cổ”. Dàn nhạc sử dụng 12 trống theo thập nhị địa chi; trống có kích cỡ to nhỏ khác nhau, mỗi cái mang tên một con giáp, đồng thời tên các con giáp này cũng là tên các

37 Huyền nữ Phạm Thị Trân (925-976), là người Hồng Châu, Hải Dương. Bà là người phụ nữ nhan sắc, lại có tài múa hát nên được tiến cử vào triều, được vua phong chức Ưu Bà. Bà dạy binh lính gảy đàn, đánh trống, múa hát…với những lời ca mang tinh thần thượng võ và yêu nước. Dần dần, bà đưa các bộ môn nghệ thuật đó lên sân khấu, diễn tả từng tích sinh hoạt gần gũi với nông dân, được quân lính yêu thích. Nghệ thuật hát chèo nảy sinh từ đó. Sau khi mất, bà được suy tôn là Tổ nghề hát chèo. (Nguồn: http://www.hopham.org)

38 http://honvietquochoc.com.vn/Nghe-Thuat/Am-nhac/Am-vang-trong-tran-Tay-Son.aspx

Biểu diễn nhạc võ Tây Sơn38

cung bậc, ngoài ra còn có phần đệm phụ trợ của kèn xô-na (còn gọi là kèn bóp), chiêng, đàn nhị…

Trên giá đỡ, trống được xếp thành ba bậc từ lớn đến bé ứng với triết lý tam tài (Thiên - Địa - Nhân). Người cử trống phải dùng tất cả các bộ phận của tay và chân như cổ tay, nắm tay cho đến cùi chỏ, chân, gót chân; có khi phải bỏ cả roi trống (dùi trống) và chỉ dùng những ngón tay để đánh 12 cái trống theo nhịp điệu của một bài nhạc võ [Bùi Nguyên Pháp 2010].

Nhạc võ Tây Sơn có hai phần: nhạc và võ. Phần nhạc được phối âm dựa trên tiết tấu chủ đạo của trống chiến trên nền âm nhạc cổ truyền, chia thành ba hồi: xuất quân, xung trận – công thành và ca khúc khải hoàn. Trong công trình “Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam”, Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương đã miêu tả tiếng trống trận Tây Sơn vô cùng đặc sắc: “Tiếng trống cất lên, hồn thiêng sông núi vọng về trong tiếng gió lướt, tiếng quân đi, tiếng vó ngựa thần tốc trên đường thiên lý. Khúc công thành dập dồn vang dội như nước vỡ bờ, vun vút tên bắn gươm khua, hừng hực voi gầm ngựa hí. Từ cao điểm, chợt điệu nhạc trầm xuống như lời tưởng niệm vong hồn tử sĩ rồi chuyển sang khúc khải hoàn tươi vui rộn rã” [Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương;

223-224]. Sở dĩ trống trận Tây Sơn không có hồi lui quân vì trong sự nghiệp chiến đấu của mình, Quang Trung chưa một lần thua trận. Vì vậy, nhắc tới trống trận Tây Sơn là nhắc tới người anh hùng bách chiến bách thắng Quang Trung – Nguyễn Huệ, là khơi dậy niềm tự hào không chỉ của riêng quê hương Bình Định mà của toàn bờ cõi Việt Nam.

Phần võ là thủ pháp đánh trống, gồm những thế võ liên hoàn. Cũng theo Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương, người đánh trống trận phải là người vừa am hiểu võ thuật binh pháp, vừa nhạy bén nắm bắt ý đồ của người chỉ huy để truyền đạt chính xác mênh lệnh qua điệu trống. Động tác đánh trống, bộ pháp di chuyển cũng là một nghệ thuật tự vệ và đôi dùi trống là vũ khí, vì người đánh trống trận ngày xưa phải vừa bảo vệ mình vừa bảo vệ tiếng trống, để nhạc võ điều binh khiển trận không bị ngắt quãng [Ngọc Phan – Bùi Ngọc Phương: 224].

Giữ vững hào khí Tây Sơn, dân tộc ta vẫn tiếp tục đánh lên những tiếng trống trận thần kỳ trong công cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ, hy sinh và mất mát. Tiếng trống của phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 sẽ vẫn còn vang vọng mãi đến hôm nay và mai sau. Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh hiện vẫn còn lưu giữ những hiện vật của cuộc chiến tranh thời ấy, đặc biệt là những chiếc trống gắn liền với nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu của phong trào:

- Trống của làng Lộc Đa dùng trong cuộc biểu tình công nông Vinh - Bến Thủy ngày 1/5/1930.

- Trống của tổng Phù Long dùng phát lệnh mở đầu cuộc đấu tranh của nhân dân Hưng Nguyên (ngày 12/9/1930).

- Trống của nhà thờ Học sỹ (Đặng Sơn, Đô Lương) dùng cổ vũ cuộc đấu tranh của nhân dân Đô Lương( ngày 8/9/1930).

- Trống của nhân dân Thái Yên (huyện Đức Thọ) đã vang lên trong cuộc biểu tình đêm 30/4/1931 và buổi truy điệu (ngày 29/4/1931) những người hy sinh trong trận càn tại Thanh Long.

- Trống của nhà thờ họ Vi (dân tộc Thái ở Môn Sơn, huyện Con Cuông) dùng làm hiệu lệnh cổ vũ nhân dân trong cuộc đấu tranh tháng 8/1931.

Trống cùng với chiêng, mõ, tù và, thanh la… đã trở thành những “vũ khí”

đắc lực cổ vũ cho tinh thần đấu tranh của nhân dân, góp phần mang lại thắng lợi vẻ vang cho cách mạng. Và tiếng trống ấy đã đi vào thơ ca để nhắc nhở cho đời sau một truyền thống đấu tranh anh dũng:

Trống Xô Viết Nghệ An vang động Bắc – Trung – Nam tràn sóng đấu tranh Hầm than, xưởng máy, lều tranh

Đứng lên tự cứu mà giành ấm no

(30 năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)

Trống trở thành biểu tượng của phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh với tên gọi thân thương: trống Xô Viết. Tượng đài Xô Viết mang hình ảnh một cánh buồm với ý nghĩa: “cánh buồm đưa con thuyền cách mạng tiến lên thắng lợi”, trên có hình búa liềm, dưới là tượng của nhân dân trong tay cầm vũ khí chiến đấu. Đặc biệt, mặt trước của tượng đài có hình trống Xô viết tượng trưng cho vũ khí đấu tranh của nhân dân, phía sau trống là một người đang vung dùi lên để đánh trống. Tượng đài phần nào tái hiện được một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc ta, với hình ảnh chiếc trống, gợi lên âm thanh của một thứ

“binh khí” đầy uy lực gắn liền với những cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân tự bao đời.

Ba mươi năm sau, nhân dân miền Nam tiếp tục vùng dậy, làng nối làng, xã liền xã, cùng đánh lên những hồi trống Đồng Khởi vang dội trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1960.

Như vậy, tiếng trống đã đồng hành cùng quân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Cái trống góp phần đắc lực vào việc h tr quân đội t chc chiến đấu hiu qu hơn. Nó là âm thanh gắn kết tinh thần quân sĩ, khiến họ trở thành một đội quân hùng mạnh để có thể đương đầu với bất cứ kẻ địch nào. Đặc biệt nhất là dưới thời Tây Sơn, chúng ta thấy vai trò của trống đã trở thành huyền thoại. Nó chính là tiếng nói của chủ soái, là mệnh lệnh điều khiển trận chiến.

Binh sĩ nghe tiếng trống mà bày thế trận. Trống theo sát trận chiến, mở màn trong

39 http://baohatinh.vn/home/tin-phong-su/vang-mai-tieng-trong-30/1k47880.aspx

Hình 3.11: Tượng đài Xô Viết39

khúc xuất quân, gia tăng hào khí, cổ vũ tinh thần chiến đấu trong khúc xung trận – công thành và kết thúc trong khúc khải hoàn nhiệt liệt.

Ở mỗi thời khác nhau thì cái trống có vai trò khác nhau trong việc giúp cho quân đội tổ chức chiến đấu nhưng nhìn chung vai trò quan trọng nhất trong mọi thời của nó là hiệu lệnh để tiến công. Âm thanh trống trận ngút trời là thứ âm thanh thiêng liêng của dân tộc Việt, đã tiếp sức mạnh cho quân dân Việt Nam từ ngàn xưa đến ngàn sau trong sự nghiệp giành lấy hòa bình, ấm no dân tộc.

Một phần của tài liệu Cái trống dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 92 - 97)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)