Ngày 26/3/1988 Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam ( Agribank
) được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ). Agribank là ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính
phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay
thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật.
Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số
18/NH-QÐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hang Nông nghiệp tại Thành phố
Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp
thuận cho Ngân hàng nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại
Thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định.
Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số
603/NH-QĐÐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch, 43 chỉ nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố. Chỉ nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, thị xã có 475 chi nhánh.
Năm 1993 Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ban hành quy chế thi đua khen thưởng tạo ra những chuẩn mực cho các cá nhân và tập thể phấn đấu trên mọi cương vị và nhiệm vụ công tác. Tổ chức được hội nghị tổng kết toàn quốc có các giám đốc chi nhánh xuất sắc nhất của tỉnh thành phô.
Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐÐ-NHNN, Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày
GVHD: Dương Đăng Khoa 16 SVTH: Đặng Điền Khắc Huy Nguyên Thị Mỹ Linh
Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ gửi tiên tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại
Agribank Cái Tắc
ee EE
16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham
mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh.
Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ ,
Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bộ máy giúp việc bao gồm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao pôm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc.
Trên cơ sở những kết quả tốt đẹp của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, Ngân hàng Nông nghiệp tiếp tục đề xuất kiến nghị lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh.
Ngày 31/08/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành
lập Ngân hàng phục vụ người nghèo.
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hang Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam.
Năm 1999, chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư phát
triển nông nghiệp nông thôn. Đẩy mạnh huy động vốn trong và ngoài nước, cho vay các chương tình dự án lớn và cho vay hộ sản xuất hợp tác sản xuất được coi là những biện pháp chú trọng của Ngân hàng Nông nghiêp kế hoạch tăng trưởng.
Tháng 2 năm 1999 Chủ tích Quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT- 08 về quy định quản lý điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối và tập trung thanh toán quốc tế. Tiến hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, đổi mới công
tác quản trị điều hành, quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản hoá các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Tập trung mọi nguồn lực đào tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên môn hoá., tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ.
Năm 2001 triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu theo chuẩn mực quốc tế đổi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại tăng cường đào tạo và đào tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng. xây “®ns t2 thống thông tin quản lý hiện đại.
Năm 2003 đầy nhanh tiến độ thực hiện Đề ỏn Tỏi cơ cấu. Vộ*in: thà ủĂ
tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, Chủ tịch nước đã ký quyết định số
226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Ngân hang Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
GVHD: Dương Đăng Khoa 17 SVTH: Đặng Điền Khắc Huy Nguyên Thị Mỹ Linh
Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tai Agribank Cái Tặc
Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu giai đoạn
2001-2010, Agribank đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tình hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý trên 90% nợ tồn động. Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành. Bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến chi nhánh được củng có, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn.
Giai đoạn năm 2005 — 2006 đạt được những thành tích đáng khích lệ về sự
đóng góp cho nên kinh tế nước nhà, nguồn vốn tự có gia tăng, mở thêm nhiều chi nhánh, lực lượng nhân viên hùng hậu và có chuyên môn cao,....
Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của Agribank. Trong chiến lược phát triển của mình, Agribank sẽ trở thành
một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đông hành thủy chung tin cậy cuả 10 triệu hộ gia đình; xúc tiễn cổ phần hóa các công
ty trực thuộc, tiễn tới cổ phần hóa Agribank theo định hướng và lộ trình thích
hợp, đảy mạnh tái cơ cầu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm , nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu, văn hóa Agribank.
Agribank là một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam về cả vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng.
Tính đến tháng 12/2009, vị thế dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳng định trên nhiều phương diện như:
- Tông nguồn vốn đạt 434.33 I tỷ đồng,
- Vốn tự có đạt 22.176 tỷ đồng - Tổng tài sản đạt 470.000 tỷ đồng
- Tổng dư nợ đạt 354.112 tỷ đồng
- Mạng lưới hoạt động: 2300 chi nhánh và phóng giao dịch trên toàn quốc
- Nhân sự: 35.135 cán bộ
Những thành tựu đạt được trong những năm gần đây:
- Agribank luôn chú trọng đâu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiễn. Agribank là ngân hàng đâu tiên hoàn thành dự án
hiện đại hóa hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng ( IPCAS ) do Ngân Hàng
GVHD: Dương Đăng Khoa 18 SVTH: Đặng Điền Khắc Huy
Nguyên Thị Mỹ Linh
Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại
Agribank Cái Tắc
Thế Giới tài trợ. Với hệ thống IPCAS đã được hoàn thiện, Agribank đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, với độ an toàn và chính xác cao đến mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước. Hiện nay Agribank đang có 10 triệu khách hàng là hộ sản xuất, 30.000 khách hàng là doanh nghiệp.
- Agribank là một trong số các ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lí
lớn nhất Việt Nam với 1.034 ngân hàng đại lí tại 95 quốc gia và vùng lãnh thổ ( tính đến tháng 12/2009 ). Đặc biệt, mới đây Agribank đã tiến hành kí kết thỏa
thuận với ngân hàng Phongsavanh ( Lào ), Ngân Hàng ACLEDA ( Campuchia ), Ngân Hàng Nông Nghiệp Trung Quốc ( ABC ), Ngân Hàng Trung Quốc ( BOC
), Ngân Hàng Kiến Thiết Trung Quốc ( CCB ), Ngân Hàng Công Thương Trung Quốc ( ICBC ), triển khai thực hiện thanh toán biên mậu, đem lại nhiều lợi ích
cho đông đảo khách hàng cũng như các bên tham gia. Agribank hiện có 8 cong ty trực thuộc đó là: Công Ty Cho Thuê Tài Chính I ( ALC I ), Cong Ty Cho Thué Tài Chính II ( ALC II ), Tổng Công Ty Vàng Agribank ( AJC ), Cong Ty In Thuong Mai va Dịch Vụ, Công Ty Cô Phần Chứng Khoán ( Agriseco ), Công Ty Du Lịch Thương Mại ( Agribank Tours ), Công Ty Vàng Bạc Đá Quý TP Hồ Chí
Minh ( VỊC ), Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm ( ABIC ).
- Agribank hiện là Chủ Tịch Hội Tín Dụng Nông Nghiệp Nông Thôn Chau A Thai Binh Duong ( APRACA ), là thành viên Hiệp Hội Tín Dung Nong
Nghiệp Quốc Tế ( CICA ), và Hiệp Hội Ngan Hang Chau A ( ABA ). Agribank đã đăng cai tô chức nhiều hội nghị quốc tế lớn như hội nghị FAO năm 1991, hội nghị APRACA năm 1996 và năm 2004, hội nghị tín dụng nông nghiệp quốc tế
CICA năm 2001, hội nghị APRACA về thủy sản năm 2002.
- Agribank là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp nhận và triển khai các dự án nước ngoài. Trong bối cảnh diễn biến kinh tế phức tạp,
Agribank vẫn được các tổ chức quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới ( WB ), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ( ADB ), Cơ Quan Phát Triển Pháp ( AFD ), Ngân
Hàng Đầu Tư Châu Âu ( EIB )... tin tưởng giao phó triển khai 136 dự án với
tổng số vốn tiếp nhận đạt trên 4,2 tỷ USD, số giải ngân trên 2,3 tỷ USD. Song
Song đó Agribank không ngừng tiếp cận, thu hút các dự án mới như: Hợp đồng
tài trợ với Ngân Hàng Đầu Tư Châu Âu ( EIB ) giai đoạn II, Dự án tài chính
nông thôn LII do WB tài trợ, Dự án Blogas do ADB tài trợ, Dự án JIBIC của Nhật Bản, Dự án phát triển cao su tiểu điền do AFD tài trợ.
- Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, Agribank còn thể hiện tránh nhiệm xã hội của một doanh nghiệp lớn với sự nghiệp An sinh xã hội của đất nước. Chỉ riêng năm 2009, Agribank đã đóng góp xây dựng hàng chục trường học, hàng trăm ngôi tình nghĩa, chữa bệnh và tặng hàng ngàn xuất quà cho đồng bào nghèo,
GVHD: Dương Đăng Khoa 19 SVTH: Đặng Điền Khắc Huy Nguyên Thị Mỹ Linh
Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại
Agribank Cát Tắc
đồng bào bị thiên tai với số tiền hàng trăm tỷ đồng. Thực hiện nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính Phủ về chương trình hỗ trợ giãm nghèo nhanh và bên vững đối với 61 huyện nghèo của 20 tỉnh, Agribank đã triển khai hỗ trợ 160 tỷ đồng cho 2 huyện Mường Ảng và Tủa Chùa thuộc tỉnh Điện Biên. Cũng trong
năm 2009, Agribank vinh dự được đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tới thăm và
làm việc vào đúng dịp kỷ niệm 21 năm ngày thành lập (26/3/1988 - 26/3/2009);
vinh dự được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, ngành ngân hàng. nhiều tô chức uy tín trên thế giới trao tặng các băng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý: TOP 10
giải SAO VÀNG ĐẤT VIỆT, TOP 10 Thương hiệu Việt Nam uy tín nhất, danh hiéu “DOANH NGHIỆP PHÁT TRIÊN BỀN VỮNG” do Bộ Công thương công nhận, TOP 10 Doanh nghiệp Việt Nam theo xếp hạng của VNR500.
- Năm 2010, Agribank là Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Tiếp tục là Định chế tài chính có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam. Năm 2010, Agribank chính thức vươn lên là Ngân hàng số I Việt Nam trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ với trên 6,38 triệu thẻ, bứt phá trong phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, đặc biệt là các sản phẩm thanh toán trong nước v.v... Ngày 28/6/2010, Agribank chính thức khai trương Chi nhánh nước ngoài đầu tiên tại
Campuchia. Agribank chính thức công bố thành lập Trường Đào tạo Cán bộ (tiền
thân là Trung tâm Đào tạo) vào địp 20/11/2010. 2010 cũng là năm Agribank tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ lan thr VII (nhiệm kỳ 2010 — 2015), Hội nghị
điển hình tiên tiến lần thứ III, Hội thao toàn ngành lần thứ VI.
- Với vị thế là ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, Agribank đã
đang không ngừng nỗ lục hết mình để đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ,
đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế của đất nước.
Mười chữ “ vàng “ văn hóa Agribank: Trung thực, Kỷ cương, Sáng tạo, Chất lượng, Hiệu quả.
-Trung thực: Được hiểu là ngay thắng, thật thà.
- Kỷ cương: được hiểu là những phép tắc chi phối cuộc sống xã hội, tổ chức, gia đình..., để gìn giữ những quan hệ giữa người và người trong khuôn khổ một lối sống sinh hoạt được coi là phù hợp với đạo đức.
- Sáng tạo: được hiểu là làm ra cái chưa bao giờ có hoặc tìm tòi làm cho tốt hơn. Nhân tố được hiểu là một nhân tố bên trong.
- Chất lượng: được hiểu là giá trị mang tính lợi ích ( đối với số lượng ),
chất lượng sản phẩm ( theo nghĩa kinh tế ): Những thuộc tính của sản phẩm được xác định băng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được, phù hợp với các điều kiện kĩ thuật hiện có và có khả năng thỏa mãn nhu cầu xã hội và của các
GVHD: Duong Dang Khoa 20 SVTH: Dang Dién Khac Huy Nguyên Thị Mỹ Linh
Đánh giá mức độ hài lòng vê dịch vụ gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại
Agribank Cái Tắc
cá nhân trong điều kiện xác định về sản xuất và tiêu dùng. Bản thân nó còn phản ánh một cách tong hợp trình độ khoa học kĩ thuật và công nghệ, là một tiêu chuẩn kinh tế, kĩ thuật rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và có ý nghĩa kinh tế to lớn ( mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ...)
- Hiệu quả: Là kết quả mong muốn, là kết quả mà con người mong đợi và hướng tới, nó có nội dung khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau ( hiệu quả kinh
tế, hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả sử dụng lao động... ). Trong sản xuất hiệu
quả có nghĩa là hiệu suất, năng suất. Trong kinh doanh hiệu quả là lãi xuất, lợi nhuận.
Định hướng phát triển
- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, kịp thời chủ trương của chính phủ, Ngân Hàng Nhà Nước ( NHNN ) về chính sách tiền tệ. Đây mạnh huy động vốn từ nhiều nguồn. Tăng cường hợp tác, kết nối thanh toán với các tổ chức, doanh nghiệp lớn. Tăng cường huy động vốn tại các đô thị, thành phố để bổ xung nguồn vốn cho nông thôn, đãm bảo các yêu cầu vốn phục vụ “ tam nông “. Thực hiện đầu tư có chọn lọc và có trình tự ưu tiên, tập trung thu hồi nợ đến hạn và nợ xấu để quay vòng vốn nhằm đáp ứng đủ nhu cầu vốn của nền kinh tế, các chương trình trọng điểm của chính phủ, đăm bảo tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống theo đúng chỉ đạo của NHNN. Xây dựng chiến lược kinh doanh giai đoạn 2011-2015,
tâm nhìn đến năm 2020. xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu Agribank.
Phát triển mạnh công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại hóa trên hệ thống