KÍNH HIỂN VI QUANG HỌC

Một phần của tài liệu Bg thuc tap vat ly 2 7518 (Trang 42 - 50)

SỬ DỤNG DAO ĐỘNG KÝ ĐIỆN TỬ

Bài 9: KÍNH HIỂN VI QUANG HỌC

I/ KHÁI NIỆM KÍNH HIỂN VI QUANG HỌC

Kính hiển vi quang học là một dụng cụ quang học sử dụng ánh sáng khả kiến hỗ trợ cho mắt để quan sát hình ảnh các vật thể nhỏ được phóng đại nhờ một hệ thống các thấu kính thủy tinh, với các độ phóng đại khác nhau, có tác dụng

làm tăng góc trông ảnh của những vật rất nhỏ mà ta không thể nhìn thấy được bằng mắt thường.

Kính hiển vi quang học là dạng kính hiển vi đơn giản, và phổ biến nhất. Các kính hiển vi quang học cũ thường phải quan sát hình ảnh trực tiếp bằng mắt nhìn qua thị kính, nhưng các kính hiện đại hiện nay còn được gắn thêm các CCD camera hoặc các phim ảnh quang học để chụp ảnh.

II/ CẤU TẠO

Kính hiển vi gồm có 4 hệ thống:

- Hệ thống giá đỡ - Hệ thống phóng đại - Hệ thống chiếu sáng - Hệ thống điều chỉnh a/ Hệ thống giá đỡ

Bệ, thân, Revonve mang vật kính, bàn để tiêu bản, kẹp tiêu bản.

b/ Hệ thống phóng đại

- Thị kính: là 1 bộ phận của kính hiển vi mà người ta để mắt và để soi kính, có 2 loại ống đôi và ống đơn.

(Bản chất là một thấu kính hội tụ có tiêu cự rất ngắn, dùng để tạo ra ảnh thật của vật cần quan sát)

- Vật kính: là 1 bộ phận của kính hiển vi quay về phía có vật mà người ta muốn quan sát, có 3 độ phóng đại chính của vật kính: x10, x40, x100.

(Bản chất là một thấu kính hội tụ có tiêu cự ngắn, đóng vai trò như kính lúp để quan sát ảnh thật).

c/ Hệ thống chiếu sáng

- Nguồn sáng (gương hoặc đèn).

- Màn chắn, được đặt vào trong tụ quang dùng để điều chỉnh lượng ánh sáng đi qua tụ quang.

- Tụ quang, dùng để tập trung những tia ánh sáng và hướng luồng ánh sáng vào tiêu bản cần quan sát. Vị trí của tụ quang nằm ở giữa gương và bàn để tiêu bản. Di chuyển tụ quang lên xuống để điều chỉnh độ chiếu sáng.

d/ Hệ thống điều chỉnh - Ốc vĩ cấp

- Ốc điều chỉnh độ tập trung ánh sáng của tụ quang - Núm điều chỉnh màn chắn

- Ốc di chuyển phiến kính mang tiêu bản (trước, sau, trái, phải) Cụ thể các bộ phận của kính được đánh số thứ tự từ 1 đến 9:

1. Thị kính: Có thể từ một đến 2 thấu kính thủy tinh cho phép tạo ra ảnh cuối cùng của vật qua hệ quang học. Độ phóng đại của thị kính khá nhỏ, thường chỉ dưới 10x, và được lắp đặt trong một ống trụ, cho phép thay đổi dễ dàng.

2. Giá điều chỉnh vật kính.

3. Vật kính: là thấu kính quan trọng nhất của các hệ tạo ảnh nhờ thấu kính, là một (hoặc có thể là hệ nhiều thấu kính) có tiêu cự ngắn, cho phép phóng đại vật với độ phóng đại lớn. Nhờ có giá điều chỉnh, các vật kính khác nhau có thể xoay để thay đổi trị số phóng đại. Trên vật kính có thể ghi các trị số phóng đại 4x, 5x, 10x, 20x, 40x, 50x hay 100x. Trong một số vật kính đặc biệt, người ta có thể sử dụng dầu để tăng độ phân giải của hệ thống.

4, 5. Ốc vi chỉnh: cho phép điều chỉnh độ cao của mẫu vật để lấy nét trong quá trình tạo ảnh.

6. Giá đặt mẫu vật

7. Hệ thống đèn, gương... tạo ánh sáng để chiếu sáng mẫu vật.

8. Hệ thống khẩu độ, và các thấu kính hội tụ để hội tụ và tạo ra chùm sáng song song chiếu qua mẫu vật.

9. Vi chỉnh vị trí cho phép dịch chuyển mẫu vật theo chiều ngang và chiều dọc để quan sát các phần khác nhau theo ý muốn.

Kính hiển vi quang học hoạt động hoàn toàn dựa trên nguyên tắc khúc xạ ánh sáng qua hệ các thấu kính thủy tinh. Vật kính, là loại thấu kính có tiêu cự ngắn, là bộ phận chính tạo nên sự phóng đại ảnh của mẫu vật. Ảnh tạo ra qua thấu kính này là ảnh thật, và ngược chiều so với vật mẫu ban đầu. Ảnh được quan sát ở thị kính chỉ được lật đúng chiều nhờ hệ thấu kính (hoặc lăng kính) trung gian đóng vai trò hệ lật ảnh. Tùy theo cách thức quan sát, ghi nhận ảnh mà ảnh được tạo ra ở thị kính có thể là ảnh thật hoặc ảnh ảo. Ảnh này sẽ là ảnh ảo khi hệ thị kính được thiết kế để quan sát trực tiếp bằng mắt thường, hoặc sẽ là ảnh thật khi hệ thị kính được ghép vào các thiết bị ghi nhận như phim quang học hoặc CCD camera.

III/ SỬ DỤNG KÍNH HIỂN VI ĐỂ QUAN SÁT MẪU VẬT 1/ Kính hiển vi 1 thị kính

2/ Kính hiển vi 2 thị kính

3/ Sử dụng kính hiển vi để quan sát mẫu Thực hiện thứ tự theo các bước sau đây:

a/ Đặt tiêu bản lên bàn để tiêu bản, dùng kẹp để giữ tiêu bản, nhỏ 1 giọt dầu soi để soi chìm trên phiến kính khi soi vật kính x100.

b/ Chọn vật kính: tùy theo mẫu tiêu bản và mục đích quan sát để chọn vật kính thích hợp.

c/ Điều chỉnh ánh sáng.

d/ Điều chỉnh tụ quang: đối với vật kính x10 hạ tụ quang đến tận cùng, vật kính x40 để tụ quang ở đoạn giữa.

e/ Điều chỉnh cỡ màn chắn tương ứng với vật kính.

f/ Hạ vật kính sát vào tiêu bản (mắt nhìn tiêu bản).

g/ Mắt nhìn thị kính, tay vặn ốc vĩ cấp để đưa vật kính lên cho đến khi nhìn thấy hình ảnh mờ của vi trường.

h/ Điều chỉnh ốc vi cấp để được hình ảnh rõ nét.

IV/ BÁO CÁO KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

1/ Trình bày cụ thể các bước điều chỉnh kính hiển vi 1 thị kính và kính hiển vi 2 thị kính để quan sát rõ mẫu vật.

2/ Nhận xét kết quả quan sát được từ các mẫu vật 1, 2, 3 khi dùng 2 kính trên.

HẾT

CÁCH XÁC ĐỊNH SAI SỐ CỦA CÁC ĐẠI LƯỢNG VẬT LÝ

Một phần của tài liệu Bg thuc tap vat ly 2 7518 (Trang 42 - 50)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(63 trang)