Tiểu huyết sắc tố và myoglobin

Một phần của tài liệu Bg nhi khoa 4 2017 phan 2 6066 (Trang 42 - 47)

- Thường xảy ra sau 24-72 giờ tùy số mũi đốt nhiều hay ít.

- Nếu có thiếu máu: truyền máu.

- Truyền dịch nhiều hơn bình thường để phòng suy thận cấp.

- Điều chỉnh rối loạn điện giải.

- Kiềm hóa nước tiểu để tăng thải myoglobin qua thận:

• Dextrose 5% trong NaCl 0,45%, pha thêm 50ml Natri bicarbonat 4,2%.

Truyền tốc độ 7m|/kg/giờ cho đến khi không còn tiểu myoglobin, thường truyền 3

195

ngày.

• Có thể kết hợp với truyền Mannitol 20%.

• Giữ pH nước tiều > 6,5.

8.2.3. Suy thận cấp

Hạn chế muối nước: nước mất không cảm giác+ nước tiểu, nước mất do ói...

Dinh dƣỡng: chế độ ăn suy thận

- Đảm bảo năng lƣợng: > 50kcal/kg/ng.

- Ít đạm, nhiều đường và béo.

- Cho ăn qua ống thông dạ dày hoặc, bằng miệng.

- Có thể TTM Glucose 10% nếu bệnh nhân không ăn đƣợc.

Chỉ định lọc thận:

- Quá tải: phù tăng nhanh, suy tim, cao HA, dọa phù phổi cấp...

- Hội chứng tăng urê máu.

- Tăng Kali máu, toan chuyển hóa.

8.2.4. Sốc muộn: các trường hợp sốc xảy ra sau 12-24 giờ thường là hậu quả của tổn thương đa cơ quan: vàng da, thiểu niệu, suy chức năng co bóp cơ tim, suy hô hấp, giảm thể tích máu. Xử trí: bù dịch theo hướng dẫn của CVP và thuốc vận mạch.

8.2.5. Hội chứng nguy kịch hô hấp cấp (ARDS): xuất hiện sớm trong 24-48 giờ đầu, lâm sàng suy hô hấp, phế âm thô đôi khi có ran, CVP bình thường, hình ảnh phù phổi trên X quang. Điều trị: thở NCPAP hoặc thở máy với PEEP cao 6-10cmH20.

8.2.6. Tổn thương đa cơ quan: mạch, phổi, gan, thận, não, huyết học... Lọc máu liên tục đƣợc chỉ định. Cần theo dõi sinh hiệu mỗi 1-2giờ, điện giải đồ, khí máu, đông máu toàn bộ, chức năng gan thận, CPK mỗi 6-12 giờ.

8.2.7. Điều trị khác

Nhiễm trùng vết đốt và/hoặc nhiễm trùng huyết (Gr(-), Gr(+)): Céphalosporine + kháng sinh chống tụ cầu. Cụ thể:

196 - Céfaloject 75-100 mg/kg chia 4 lần TM.

- Thoa Bleu methylen vết ong đốt (vừa thoa vừa đếm xem báo nhiêu vết).

- Nếu vết ong đốt < 5 - 1 0 vết: có thể cho kháng sinh uống: Erythromycine 50 mg/kg/ng, chia 3 lần.

Cao HA: thuốc ức chế Ca hoặc ức chế beta: Nifedipine 0,25 - 0,5 mg/kg/lần, lặp lại sau 30 phút nếu không hiệu quả.

Tăng Kali máu: điều trị nội trước khi chạy thận:

- Ca chlorure 10% hoặc Ca gluconate 10%: 0,5 mg/kg.

- Bicarbonate 4,2% 1 mEq/kg TM.

- Kayexalate lg/kg, mỗi 4-6 giờ: nếu gavage sẽ pha với Sorbitol 70%, nếu bơm hậu môn sẽ pha với Sorbitol 20%.

Thuốc giảm đau: Acétaminophen 10 -15 mg/kg, chườm lạnh nơi sưng đau.

8.2.8. Theo dõi

Sinh hiệu: tri giác, mạch, HA, nước, tiểu mỗi 2 - 6 giờ tùy tình trạng bệnh nhân.

Cân nặng, lƣợng xuất nhập mỗi ngày, Các biến chứng xảy ra.

9. PHÕNG NGỪA

Vấn đề phòng ngừa rất quan trọng. Cần lưu ý đến khâu tuyên truyền rộng rãi qua báo chí, truyền thanh, truyền hình về sự nguy hiểm của ong đốt để hạn chế tai nạn xảy ra. Trường hợp gặp phải tổ ong bị phá dù do vô tình hay cố ý, đàn ong bay ra tấn công thì cách tốt nhất theo tác giả Spradbery là: “Hãy bình tĩnh đứng yên tại chỗ sẽ an toàn hơn là bỏ chạy hoảng loạn và la hét” vì mục tiêu nào di động nhất thì ong sẽ tấn công nhiều nhất. Ngoài ra ta cần lưu ý đến những việc sau đây:

- Khuyên trẻ tránh xa, không đƣợc chọc phá tổ ong.

- Không để ong làm tổ trong nhà, gần đường đi.

- Có thể đốt tổ ong bằng cách: người ta tiến hành vào buổi tối khi ong đã về tổ

197

hết. Đốt một ngọn lửa thật to đủ sức bao phủ hết tổ ong, để vào các cửa ra vào của tổ ong. Khi nóng ong bay ra sẽ bị cháy cánh và chết.

- Cần thông tin tuyên truyền cho các bậc cha mẹ biết về mức độ nguy hiểm khi bị ong đốt và cách xử trí trẻ khi bị ong đốt.

Hơn nữa, khi bị ong đốt ta hãy nhanh chóng đến cơ sở y tế gần nhất để đƣợc hướng dẫn cách chăm sóc và theo dõi các biến chứng nếu có. Việc cẩn thận trong điều trị ong đốt nhất là vấn đề truyền dịch cần đƣợc quan tâm đặc biệt vì có thể gây ra tình trạng quá tải do nạn nhân dễ bị suy thận cấp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

10. Bạch Văn Cam. Rắn cắn. Phác đồ điều trị. Bệnh viện Nhi Đồng I. 2006. Tr 107- 110

11. Nhi khoa chương trình đại học tập 2- Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 2006

12. Nguyễn Hữu Nhân:Biểu hiện lâm sàng và yếu tố tiên lƣợng do ong đốt , luận văn thạc sỹ y học 2000.

13. Nguyễn Thị Kim Thoa: Đặc điểm dịch tể học và lâm sàng ngộ độc cấp trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 1997- 2001, luận án bác sỹ chuyên khoa II, 2002

14. Loren Johnson: Toxic bites and stings, Principles and Practice of Emergency Medicine, 3th edition, 1992: 2779- 2792

RẮN CẮN MỤC TIÊU HỌC TẬP

198 1. Phân loại đƣợc các loài rắn.

2. Phân biệt đƣợc rắn độc và rắn không độc.

3. Phân tích đƣợc các triệu chứng lâm sàng khi bị rắn độc cắn.

4. Hiểu đƣợc các triệu chứng lâm sàng của rắn cắn.

5. Xử trí đúng cách tại hiện trường sau khi bị rắn cắn.

6. Điều trị đúng cách trẻ bị rắn cắn tại bệnh viện.

7. Liệt kê đƣợc các biện pháp phòng ngừa rắn cắn.

NỘI DUNG

1. DỊCH TỄ HỌC

Ở nước ta, đa số dân miền Tây thường bị rắn hổ cắn, trong khi đó dân ở miền Đông thường bị rắn lục cắn. Đặc biệt dân vùng giáp ranh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Thuận thường bị rắn hổ mèo cắn. Hầu hết các trường hợp bị rắn cắn xảy ra do nạn nhân vô tình đạp lên con rắn, trong bóng tối hoặc dưới lòng đất mà người đó chỉ đi chân đất. Một số trường hợp xảy ra khi rắn vào nhà tìm mồi.

Các đối tượng thường bị rắn cắn là: nông dân trồng lúa, công nhân đồn điền (cao su, cà phê), người nuôi thú, thợ săn, người bắt rắn bằng tay, người nuôi rắn, ngư dân và nông dân bắt cá, thợ bắt rắn biển.

Từ năm 1990 - 1998, Bệnh viện Chợ Rẫy đã điều trị 1997 trường hợp rắn độc cắn. Người bị cắn thường là nông dân, trẻ con. Phái nam nhiều hơn phái nữ. Tỷ lệ tử vong cao khi chƣa nhập khẩu hoặc điều chế đƣợc huyết thanh kháng nọc rắn. Từ năm 1985 -1989 tỉ lệ tử vong là 19,7%.

Từ năm 1990 - 1995, khi nhập khẩu huyết thanh kháng nọc rắn đa giá hoặc đơn giá, tỉ lệ tử vong giảm còn 5%. Và khi sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn đƣợc điều chế tại Bệnh viện Chợ Rẫy, tỉ lệ tử vong chỉ còn 2,7%.

Tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ năm 1997 - 2001 đã điều trị được 191 trường hợp do côn trùng đốt, trong đó rắn cắn chiếm 1/3 các trường hợp. Tỉ lệ ngộ độc do côn trùng cắn chiếm 45,3% các trường hợp ngộ độc do hóa chất và 16 - 20% ngộ

199

độc chung. Đa số các trường hợp tử vong tập trung vào nhóm rắn cắn chiếm 2 - 5%. Điều này đã cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của rắn cắn.

Một phần của tài liệu Bg nhi khoa 4 2017 phan 2 6066 (Trang 42 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(83 trang)