CHƯƠNG 8 VIÊM LOÉT GIÁC MẠC
8.2.2. CÁC DẠNG VIÊM GIÁC MẠC THƯỜNG GẶP
8.2.2.3. Viêm loét giác mạc do Herpes simplex virus (HSV)
HSV là virus DNA chỉ ký sinh ở người với tần suất rất cao 90% dân số, tuy nhiên đa số không có biểu hiện lâm sàng. HSV sống tiềm ẩn trong các hạch thần kinh nơi bị nhiễm, từ đó nó có thể trỗi dậy, lần theo các sợi thần kinh gây nên những đợt tái phát. Tùy theo tính chất lâm sàng và đặc tính miễn dịch, HSV được chia làm hai loại:
- HSV – 1 : nằm tiềm ẩn ở hạch dây thần kinh sinh ba, gây bệnh ở mặt, môi, mắt.
- HSV – 2: nằm tiềm ẩn ở hạch gai sống, gây bệnh viêm sinh dục và có thể lây nhiễm vào mắt nhất là ở trẻ sanh ngả âm đạo có mẹ đang bị viêm sinh dục do HSV.
8.2.2.3.2. Biểu hiện lâm sàng
- Nhiễm HSV ở mắt nguyên phát: thường ở trẻ từ 6 tháng – 5 tuổi do kháng thể của mẹ chỉ tồn tại trong 6 tháng đầu sau sanh, bệnh thường kèm theo triệu chứng toàn thân như sốt cao, hạch trước tai,…
- Viêm kết mạc – mi: viêm kết mạc cấp thường chỉ một bên, kèm hạch trước tai, và tổn thương dạng bọng nước ở da mi và quanh mí (Hình 8.4). Điều trị bằng thuốc mỡ chống HSV 5 lần/ngày x 21 ngày để ngăn ngừa viêm giác mạc, tuy nhiên bệnh có thể tự giới hạn và không ảnh hưởng giác mạc nhất là ở trẻ em.
Hình 8.4. Viêm kết mạc – mi do HSV
- Viêm giác mạc: dưới dạng viêm giác mạc chấm nông hoặc viêm giác mạc hình sao, hoặc nặng hơn là viêm giác mạc hình cành cây với những bọng nước nhỏ li ti hoặc hình bản đồ (Hình 8.5). Bệnh nhân thường ít đau nhức mắt do HSV làm giảm cảm giác giác mạc.
Hình 8.5. Viêm giác mạc do HSV
- Viêm loét giác mạc HSV tái phát: tổn thường tái phát trên nền sẹo do viêm giác mạc trước đó, thường có hình dạng bản đồ và lấn sâu vào nhu mô.
- Viêm giác mạc hình dĩa: bệnh sinh còn chưa rõ ràng, có thể do HSV tái phát trên tế bào giác mạc (keratocyte) và tế bào nội mô hoặc do phản ứng quá mẫn chậm. Biểu hiện dưới
thể mi nhẹ và tăng áp cấp. Điều trị trong nhiều tuần bằng thuốc mỡ Acyclovir 3% x 4 lần/ngày phối hợp với Steroides nhỏ 4 lần/ngày. Khi có đáp ứng tốt với điều trị thì giảm dần liều thuốc và ngừng hẳn Acyclovir, còn steroides có thể duy trì ở liều 1 giọt/ngày trong nhiều tháng để tránh hiện tượng bùng phát (rebound
8.2.2.3.3. Điều trị Thuốc chống virus:
- Bệnh có thể tự thoái lui dù không điều trị trong 50% trường hợp. Với thuốc chống virus, tỷ lệ khỏi bệnh sẽ lên đến 95%, biểu hiện qua kích thước ổ loét thu nhỏ ở ngày thứ 4 và biểu mô hóa ở ngày thứ 10 và thuốc phải được giảm liều và ngưng ở ngày thứ 14. Thuốc được xem như không hiệu quả nếu không có cải thiện lâm sàng sau 7 ngày điều trị và cần phải thay thuốc chống HSV khác.
- 3 loại thuốc có thể sử dụng hiện nay:
+Acycloguanocine (pommade Acyclovir, Zovirax 3%): dùng 5 lần/ngày) thuốc gần như không độc nên có thể dùng lâu dài như trong điều trị viêm giác mạc hình dĩa.
Thuốc ngấm tốt qua biểu mô và nhu mô giác mạc bình thường nên là thường được chỉ định trong viêm loét giác mạc sâu hoặc viêm mống mắt thể mi do HSV.
+Trifluorothymidine (Vidarabine, TFT, Triherpine 1%): nhỏ mỗi 2 giờ trong ngày.
Hiệu quả tương đương Acyclovir trong viêm giác mạc nông nhưng ngấm kém hơn và độc hơn với biểu mô giác mạc và kết mạc.
+Adenine arabiside (pommade 3%, hoặc collyre 0.1%): chỉ dùng trong các trường hợp HSV kháng với hai loại thuốc trên (khoảng 5% trường hợp).
- Cạo biểu mô giác mạc: thường có hiệu quả tốt trong viêm giác mạc hình cành cây, nhưng ít tác dụng đối với dạng bản đồ. Phương pháp này nhằm lấy đi các tế bào chứa HSV giúp hạn chế sự lây nhiễm vào tế bào lành lân cận và làm giảm lượng kháng nguyên kích thích viêm nhu mô. Bệnh khỏi rất nhanh trong 1 – 2 ngày, nhưng thường tái phát nên phải phối hợp với thuốc chống HSV.