Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI
1.1. Một số vấn đề lý thuyết
1.1.1. Một số khái niệm công cụ liên quan đến đề tài
* Phương tiện truyền thông mới
Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ PTTTM xuất hiện và phát triển khá nhanh từ cuối những năm 80 trở đi. Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra một khái niệm về PTTTM. Trong rất nhiều tranh luận, có quan điểm cho rằng, PTTTM có thể gọi là phương tiện truyền thông hội tụ bởi đó là sự kết hợp của ba yếu tố: công nghệ điện toán, mạng truyền thông và nội dung thông tin. Gần với quan điểm này, một số khác nhìn nhận PTTTM là phương tiện truyền thông kỹ thuật số, là nội dung tích hợp dữ liệu (âm thanh, hình ảnh, chữ...), được lưu trữ trong các định dạng kỹ thuật số, được phân phối thông qua các mạng lưới như cáp quang, vệ tinh, hệ thống truyền tải siêu thanh... [41].
Trong công trình Hand book of New Media (2006) (Sổ tay phương tiện truyền thông mới), một số tác giả cho rằng, PTTTM cần phải có ba yếu tố: các đồ tạo tác hoặc các thiết bị cho phép và mở rộng khả năng giao tiếp; các hoạt động và công tác truyền thông giúp phát triển và sử dụng các thiết bị này; và các thoả thuận, tổ chức xã hội hình thành xung quanh các thiết bị và công việc này [107].
Với góc nhìn rộng hơn, nhóm tác giả Martin Lister, Jon Dovey, Seth Giddings, Ianin Grant và Kieran Kelly trong New Media - A Critical Introduction (2009) (Phương tiện truyền thông mới - một giới thiệu có tính phản biện) đưa ra quan điểm: điều quan trọng trong nghiên cứu truyền thông là phải hiểu “phương tiện truyền thông” là các tổ chức xã hội đầy đủ chứ không phải chỉ nói về công nghệ truyền thông. Chúng ta cũng không thể nói đó là một “phương tiện truyền thông mới”, nếu sau gần 30 năm nó vẫn được ít người biết đến. Theo hướng này, các tác giả nhìn nhận PTTTM có 3 đặc
28
điểm: một là, chúng có đóng góp lớn vào sự thay đổi mang tính lịch sử của toàn cầu; hai là, chúng đóng vai trò như một “nhà cải cách” đầy quyền lực và mạnh mẽ cho khái niệm “mới”; và ba là, chúng là sự lai ghép hữu ích, toàn diện và cân bằng giữa kỹ thuật và chuyên môn (truyền thông) [108].
Điểm lại một vài quan điểm trên để thấy rằng hiện chưa có sự chưa đồng thuận trong cách hiểu về PTTTM và những vấn đề xoay quanh chúng.
Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận, PTTTM chính là một phần quan trọng của sự thay đổi toàn cầu. Sự xuất hiện của PTTTM được xem như một hiện tượng thời đại, đó là một phần của nền văn hóa công nghệ mới trong một thời đại mới/kỷ nguyên mới của loài người.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhìn nhận các PTTTM là một trong những thành tựu quan trọng nhất mà loài người đã đạt được trong vòng 3 thập kỷ trở lại đây, là một bước ngoặt truyền thông trong thời đại số.
Và, thuật ngữ PTTTM được dùng chủ yếu để mô tả những lựa chọn truyền thông số xuất hiện trong những năm gần đây. Đặc biệt, chúng tôi nhìn nhận các PTTTM không chỉ đơn thuần là công nghệ mà còn bao gồm cả bối cảnh sử dụng và sự tác động của chúng tới đời sống văn hóa - xã hội của con người. Với khả năng tưởng chừng “không giới hạn”, có thể nói, các PTTTM đã và đang làm thay đổi cả thế giới và cách tư duy của chúng ta, đúng như nhận định của Thomas L. Friedman trong cuốn sách “Thế Giới Phẳng”
(2006): các phương tiện truyền thông như một trong những yếu tố căn bản nhất góp phần làm cho thế giới trở nên “phẳng” thông qua các loại tín hiệu kỹ thuật số, các chương trình Internet, điện thoại di động với nhiều chức năng mới, và nhiều hình thức lưu trữ, chuyển tải thông tin khác từ người này đến người khác hay từ nơi này sang nơi khác [80].
* Mạng xã hội
Thế kỷ 20 được xem là kỷ nguyên toàn cầu bởi sự phát minh ra Internet và MXH. Với sự ra đời của MXH, trái đất hình tròn của chúng ta dường như
29
đã trở thành một “đường thẳng”, ở đó tất cả mọi người đều có thể được kết nối với nhau bất kể họ đang ở nơi đâu và vào thời điểm nào. Trong một xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống công nghiệp bận rộn khiến con người có ít thời gian để gặp gỡ nhau trực tiếp, MXH đã làm thay đổi cách chúng ta giao tiếp với nhau theo cách giúp mọi người giao lưu và chia sẻ với nhau mọi lúc, mọi nơi mà ở đó không còn rào cản về khoảng cách không gian địa lý hay thời gian. Nhờ những tính năng ưu việt ấy, hiện nay số lượng người đăng ký thành viên và truy cập các trang MXH đang không ngừng tăng lên. Có thể nói, sự phổ biến của MXH đang dần thay đổi cách sống và làm việc của xã hội loài người từ cá nhân cho đến tập thể, tổ chức… và thậm chí nó đang dần trở thành một phần cuộc sống của một cộng đồng người trong chúng ta.
MXH được coi là môi trường thể hiện rõ nhất đặc trưng tương tác của các PTTTM, và cũng giống như các PTTTM, hiện còn nhiều quan điểm khác nhau trong việc định nghĩa MXH cùng những vấn đề tính năng, ưu điểm hay hạn chế của MXH. Bản thân cụm từ “social network” là thuật ngữ quốc tế rất thông dụng song vẫn còn có rất nhiều tranh cãi trong việc chuyển ngữ chính xác.
Theo Từ điển Bách khoa Wikipedia: “Mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo (tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian” [93]. Theo cách định nghĩa như vậy, MXH có thể ngầm hiểu là một thế giới ảo (xã hội ảo) với các thành viên là các cư dân mạng. Các cư dân mạng liên kết với nhau theo cách có thể dựa trên các nhóm (group), dựa trên các thông tin cá nhân, sở thích cá nhân hoặc lĩnh vực quan tâm. Với cách hiểu này, khái niệm MXH đã gây ra rất nhiều tranh luận khi chỉ tập trung vào vấn đề coi chúng là sự kết nối những người có chung sở thích, mục tiêu và họ là những người kiến tạo nội dung của MXH. Đi cùng với sự lý giải này, có ý kiến cho rằng nên đổi thành thuật ngữ “mạng giao lưu” cho đúng với ý nghĩa và mục đích của “social network”.
30
Laura Garton - nhà nghiên cứu xã hội học, chuyên gia nghiên cứu chiến lược của Đại học Toronto lại đưa ra một định nghĩa rất đơn giản “khi một mạng máy tính kết nối mọi người hoặc các cá nhân, tổ chức lại với nhau thì đó chính là mạng xã hội” [47]. Theo cách hiểu này, MXH là một tập hợp người/hoặc các tổ chức/hoặc các thực thể xã hội khác được kết nối với nhau thông qua mạng máy tính. Như vậy trái với cách hiểu của nhiều người, MXH là mạng máy tính lớn với nhiều thành viên thì thực chất MXH đơn giản chỉ là hệ thống của những mối quan hệ con người với con người, và trên bình diện đó, bản thân Facebook, YouTube hay Twitter sẽ không phải là MXH mà chỉ là những dịch vụ trực tuyến được tạo lập để xây dựng và phản ánh MXH.
Có một cái nhìn cụ thể hơn, nhà nghiên cứu Eric K. Clemons thuộc Đại học Pennsylvania, Mỹ đã phân chia MXH ra làm 6 loại căn bản dựa trên sự tương đồng giữa MXH trong thực tế cuộc sống với MXH online, tùy theo mục đích sử dụng của người dùng:
- Để giải trí: điển hình có Second Life của Mỹ, hoặc VinaGame của Việt Nam, và Garena của Singapore…
- Để kết nối: nổi bật nhất là Facebook, MySpace của Mỹ, hay Yume.vn, Gov.vn, ZingMe, Zalo… của Việt Nam. Đây là những mạng phổ biến nhất hiện nay.
- Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin: đây là những cộng đồng mạng có cùng mối quan tâm đến một vấn đề nào đó. Ví dụ yelp.com của Mỹ (và website tương tự yup.vn và thodia.vn của Việt Nam) là nơi cộng đồng chia sẻ thông tin đánh giá về những địa điểm mà cư dân trong cộng đồng quan tâm và thường lui tới (nhà hàng, siêu thị…). Hoặc tripadviser.com là cộng đồng dành cho những người thích du lịch.
- Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin dành cho giới chuyên gia: điển hình là LinkedIn.com của Mỹ, XING.com của Đức và CyVee.com của Việt Nam.
31
- Để tìm sự hỗ trợ và hỗ trợ cộng đồng: thường nhắm đến những nhóm đối tượng cụ thể, ví dụ lamchame.com, webtretho.com, otosaigon.com.
- Để giải trí, tạo và quản lý nội dung: tiêu biểu là YouTube, Flickr, WordPress, hay vnphoto.net của Việt Nam.
Nhìn vào cách phân loại trên, MXH được Clemons định nghĩa như là tập hợp những cá nhân có cùng chung những mối quan tâm, cùng chia sẻ những giá trị… tập hợp lại để trao đổi thông tin, kết bạn, hỗ trợ lẫn nhau và cũng là để giải trí, bộc lộ cái tôi của mình. Việc phân loại các MXH giúp hiểu được mục đích của người dùng khi “tìm đến” các trang mạng này, từ đó các nhà hoạch định chiến lược có thể tìm ra những phương thức phù hợp nhằm tạo doanh thu (monetizing) từ những cộng đồng này [14].
Ở Việt Nam, một trong những định nghĩa về MXH nhận được nhiều sự quan tâm và đồng tình của giới nghiên cứu là của PGS.TS. Vũ Duy Thông khi cho rằng: “Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thực thể truyền thông trên Internet với nhau thành những cụm mạng nhỏ hơn theo sự liên kết tự nguyện không phân biệt thời gian, không gian” [83]. Hiểu một cách đơn giản hơn, MXH là một bộ phận của Internet được hình thành từ sự kết hợp tự nguyện những blog, website của các cá nhân hoặc nhóm cá nhân có cùng sở thích, mục đích.
Tại chương 1 Nghị định 97/2008/NĐ - CP, điều 3 - khoản 14 đã định nghĩa về MXH như sau: “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi, người sử dụng khả năng, tương tác chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo nhật ký (blog), diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác” [11].
Nhìn chung có nhiều quan điểm khác nhau về MXH xong tất cả đều thống nhất ở việc cho rằng với những tính năng được tích hợp, MXH đã đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống mỗi ngày của hàng trăm triệu thành viên trên khắp thế
32
giới khi họ có thể khai thác các tính năng dịch vụ theo nhiều phương cách để phục vụ cho mục đích tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim/ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán...
Trên cơ sở tổng hợp những cách hiểu về MXH, trong phạm vi đề tài, các vấn đề nghiên cứu được dựa trên nội dung về MXH như sau: Mạng xã hội là một xã hội ảo, trong đó có hai thành tố chính là các thành viên và sự liên kết giữa các thành viên đó. Mạng xã hội là dịch vụ Internet cho phép kết nối các thành viên cùng sở thích không phân biệt không gian và thời gian qua những tính năng như kết bạn, chat, email, phim/ảnh… nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của cộng đồng mạng và chúng mang chứa những giá trị xã hội nhất định.
* Tác động
Chúng ta đều biết rằng mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan đều không thể tồn tại một cách độc lập, đơn lẻ mà luôn nằm trong những mối liên hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau. Theo từ điển Tiếng Việt,
“tác động” được định nghĩa là việc làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định [95]. Một số quan điểm cho rằng, tác động là sự chuyển dịch có định hướng của đối tượng này lên đối tượng khác trong mối quan hệ tương tác được xác lập giữa chúng. Như vậy, tác động là khái niệm có nội hàm rộng bao trùm lên cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần, ở đó chỉ cần một kích thích nào đó của đối tượng này sẽ gây ra biến đổi ở đối tượng kia. Trong rất nhiều dạng thức tác động và biến đổi, tác động gây biến đổi về tâm lý, đạo đức, lối sống của con người được xem là dạng thức tác động phức tạp nhất.
Trong mối quan hệ với giới tự nhiên và xã hội, con người vừa là chủ thể tác động song đồng thời cũng là đối tượng chịu sự tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến những biến đổi về tâm lý, hành vi của họ.
Theo quan điểm của Karl Marx, đạo đức của con người là sản phẩm của
33
những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, nói cách khác, đạo đức, lối sống của con người là sản phẩm của quá trình tác động hoạt động của họ trong hiện thực khách quan [15]. Theo tâm lý học hoạt động, lối sống của thanh, thiếu niên được hình thành và phát triển thông qua quá trình hoạt động và giao tiếp của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội của họ. Nói cách khác, lối sống của mỗi cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng từ chính những hoạt động của họ trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ CNTT-TT như hiện nay đã xuất hiện một dạng thức tác động mới mẻ chưa từng có trước đó - tác động của các PTTTM, nhất là MXH đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của con người, đặc biệt là sự tác động gây ra những biến đổi về tâm lý, đạo đức, lối sống vốn được xem là hình thức tác động phức tạp nhất. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng, bản thân MXH cùng các PTTTM khác là thành tựu của nhân loại, mang tính chất trung tính, khách quan. Chúng được sáng tạo ra nhằm mục đích trước hết như một phương tiện hỗ trợ, mang đến những tiện ích cho cuộc sống mỗi cá nhân trong thời đại số, ở đó ẩn chứa nhiều hấp dẫn song cũng không ít cám dỗ, tiêu cực. Trong phạm vi đề tài, sự tác động của MXH được nhìn nhận có thể theo chiều hướng tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào cách thức, mục đích và thời gian sử dụng MXH của mỗi người. Sở dĩ sự tác động của MXH có thể sẽ gây ra những biến đổi theo nhiều chiều hướng và mức độ trong lối sống của thanh, thiếu niên bởi thực tế sẽ có những khác biệt căn bản về thể chất, tâm sinh lý lứa tuổi, điều kiện sống, nghề nghiệp, nhu cầu… của mỗi cá nhân ở từng nhóm tuổi.
Mỗi cá nhân khi trở thành thành viên của một cộng đồng mạng rộng lớn, tất yếu sẽ chịu ảnh hưởng, tác động của những nguyên tắc, chuẩn mực hành vi của cộng đồng mạng theo cơ chế tác động nhất định. Theo nhận định của nhà nghiên cứu Bùi Thế Duy: “thông qua cơ chế xã hội hóa cá nhân, tập nhiễm và áp lực nhóm thì những gì cá nhân học được trên internet, mạng xã hội và cộng đồng cư dân mạng sẽ trở thành những giá trị đạo đức, lối sống đặc trưng và thể hiện
34
chúng thông qua các hoạt động mà cá nhân đó thực hiện trong các mối quan hệ với xã hội, tự nhiên và môi trường” [15]. Nói cách khác, lối sống của thanh thiếu niên được hình thành, phát triển, bộc lộ thông qua các hoạt động sống, do vậy sự tác động của MXH tới lối sống của họ cũng sẽ được biểu hiện thông qua các hoạt động sống cơ bản ấy, bao gồm: Ứng xử, thói quen sinh hoạt hằng ngày;
Giao tiếp; Học tập và làm việc; Thể hiện bản thân. Tuy nhiên, đề tài nhận định sự tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên theo cơ chế khá phức tạp: thanh, thiếu niên trong tư cách là những chủ thể có ý thức, sự tác động của MXH tới các chủ thể này phải thông qua ý thức chủ quan mới làm cho mỗi cá nhân có những biến đổi nhất định, có nghĩa rằng đó không phải là sự tác động mang tính trực tiếp, có thể gây ra biến đổi tức thì, mà là sự tác động theo con đường gián tiếp thông qua nhận thức và sự quyết định lựa chọn của mỗi cá nhân người dùng (đối tượng bị tác động). Và, như bất cứ sự tác động nào trên phương diện xã hội, tác động của MXH đối với lối sống của thanh, thiếu niên bao giờ cũng diễn ra trong những không gian, thời gian xác định và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Điều này sẽ quy định mức độ tác động trên mỗi cá nhân. Mặt khác, sự tác động này không phải chỉ mang tính một chiều mà đó là sự tác động, ảnh hưởng có tính chất tương tác qua lại lẫn nhau giữa MXH và người dùng, theo đó việc sử dụng MXH của thanh, thiếu niên dù ít hay nhiều cũng có những động thái tác động trở lại đối với các dịch vụ MXH, chẳng hạn như nhu cầu của giới trẻ (nhu cầu giao lưu và chia sẻ là cao nhất) luôn là một trong những yếu tố hàng đầu kích thích nhà mạng không ngừng cải tiến các trang mạng có cấu trúc phong phú, giao diện thu hút, tăng khả năng tương tác và liên kết cộng đồng … và có một điều dễ nhận thấy nhất đó là chính những người dùng chúng ta đã và đang làm cho MXH trở nên ngày càng phổ biến.
* Lối sống
Theo cách nói thông dụng trong tiếng Anh “Lối sống” có thể được hiểu là tương đương với khái niệm lifestyle/ life-style/style of life. Trong giới học