Quan điểm lý thuyết trong nghiên cứu về tác động của các phương tiện truyền thông mới đối với lối sống của thanh, thiếu niên ở Việt Nam hiện nay

Một phần của tài liệu 22-Nguyễn Thị Lan Hương.pdf (Trang 42 - 60)

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI

1.1. Một số vấn đề lý thuyết

1.1.2. Quan điểm lý thuyết trong nghiên cứu về tác động của các phương tiện truyền thông mới đối với lối sống của thanh, thiếu niên ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu về các PTTTM là một chủ đề đang chiếm sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Điều này xuất phát từ nhiều lý do, cả từ sự mới mẻ mà các phương tiện truyền thông này đem lại cho con người và thế giới; mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng sâu rộng của các phương tiện ấy đối với xã hội; hay sở thích cá nhân của các nhà nghiên cứu trẻ muốn tìm kiếm con đường đi khác so với những công trình nghiên cứu đi trước; cũng như từ rất nhiều lý do khác. Trong các công trình nghiên cứu, hàng loạt các vấn đề lý thuyết đã được đặt ra, áp dụng, và chúng tôi cũng muốn điểm qua một vài quan điểm lý thuyết cũng như những ảnh hưởng được xem là chung nhất mà các nhà nghiên cứu đã đề cập đến khi nghiên cứu về các PTTTM, có thể giúp ích cho việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài.

40

Đề tài sử dụng hệ thống lý thuyết lối sống với 3 mô hình liên kết chặt chẽ với nhau: mô hình cấu trúc, chức năng và mô hình biến đổi nhằm phân tích ảnh hưởng của MXH đến lối sống của thanh, thiếu niên Việt Nam với tư cách là một nhóm xã hội đặc biệt, theo quy trình tác động như sau: Dịch vụ mới  Nhu cầu mới  Lối sống mới  Thói tật mới. Từ đó, vừa nhìn thấy lợi ích tiềm tàng mà MXH mang đến cho các cá nhân cũng như cho xã hội, vừa cảnh báo về những nguy cơ của không gian số và ảo. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng mô hình lý thuyết về tác động của truyền thông đối với lối sống của thanh, thiếu niên hiện nay, bao gồm: các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông, cơ chế tác động, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tác động… Như bất cứ một phương tiện truyền thông nào, bản thân MXH mang tính chất trung tính, khách quan nên sự tác động của nó đối với lối sống của thanh, thiếu niên theo hướng tích cực hay tiêu cực còn là sự phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng, mức độ, mục đích và nội dung sử dụng của nhóm đối tượng này trong thế giới số và môi trường MXH. Sau cùng, đề tài đặt sự phát triển của MXH ở Việt Nam trong bối cảnh chung của toàn thế giới, xem xét thanh, thiếu niên Việt Nam trong bối cảnh xã hội cụ thể, với những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi, trong gia đình, học tập, công việc, ngôn ngữ,… để thấy được cái chung phổ biến và cái riêng đặc thù trong tác động của MXH đối với lối sống của họ.

1.1.2.1. Các PTTTM và quá trình cá nhân hóa

Theo chúng tôi, ảnh hưởng quan trọng nhất của các PTTTM đối với văn hoá nói riêng, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nói chung là chúng thúc đẩy quá trình cá nhân hoá trên mọi lĩnh vực.

Cá nhân hoá không phải là một quá trình mới. Nói theo một cách nào đó, bản chất của con người thích và luôn có nhu cầu tư hữu. Chủ nghĩa tư bản luôn khuyến khích quá trình tư hữu hoá, và thực chất quá trình tư hữu hoá trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển ở

41

các nước tư bản. Cá nhân hoá không nhất thiết đồng nghĩa với tư hữu hoá, nhưng là một biểu hiện quan trọng của tư hữu hoá.

Nếu chủ nghĩa tư bản đề cao tư hữu hoá, cá nhân hoá thì để thực sự thúc đẩy quá trình này, các PTTTM chính là các công nghệ hoàn chỉnh nhất tính đến thời điểm này. Trong một thế giới ảo, Internet cho phép mỗi người có những địa chỉ riêng, có thể hoàn toàn thoả mãn những ý thích, mong muốn của mình thông qua chat, thư điện tử (e-mail) và blog... Chúng ta có quyền nói những điều chúng ta thích trên mạng chứ không cần phải nói những điều mà người khác muốn. Đó là biểu hiện cụ thể nhất của quá trình cá nhân hoá.

Điện thoại di động cho phép mỗi người được sở hữu một phương tiện liên lạc riêng tư, không buộc phải dùng chung và chịu sự theo dõi của những người khác. Và đây thực sự là một nhu cầu đang tăng lên và cần sự đáp ứng trong bối cảnh xã hội mới. Nhiều người còn cho rằng, ĐTDĐ là một vật dụng riêng tư không thể thiếu của con người hiện đại, không gian riêng của mỗi cá nhân nằm trong máy ĐTDĐ.

Phải mất ròng rã 38 năm trời cho chiếc radio làm một cuộc hành trình thâm nhập vào 50 triệu gia đình Mỹ và 13 năm cho truyền hình thực hiện một cuộc chinh phục tương tự. Nhưng Internet chỉ cần vài năm đã lan rộng khắp thế giới. Một trong những nguyên nhân ít được nói đến khiến Internet nhanh chóng chinh phục thế giới là bởi nó phản ánh được tính cá nhân trong xã hội hiện nay cũng tương tự như truyền hình phản ánh tính phổ quát trong thập kỷ 50. Internet không chỉ cá nhân hoá mà nó còn mang tính tức thời, tương tác và có sức lôi cuốn.

Quá trình cá nhân hoá đời sống văn hoá có thể có lợi hoặc hại. Trong một môi trường văn hoá, ai cũng muốn thể hiện cái tôi của mình sẽ khiến những trật tự của tập thể bị vi phạm nhưng điều đó lại khuyến khích sự năng động của cá nhân. Trong bối cảnh xã hội hiện thời, việc đề cao tính năng động

42

của cá nhân đang được đánh giá cao hơn việc duy trì các trật tự, đặc biệt trong giới trẻ.

Trong các nhân tố làm phẳng thế giới được T. Friedman đề cập tới, tính chất số, di động, cá nhân và ảo được xem là một trong những yếu tố quan trọng. Cá nhân hoá thực sự đang là một nhu cầu trong xã hội khi mọi người cần có không gian riêng dành cho mình, có những đồ vật thể hiện tính cách riêng của mình, và đây cũng là cơ hội cho các PTTTM. Không phải tình cờ hay ngẫu nhiên mà quảng cáo về các hãng điện thoại luôn đề cập đến tính cách năng động, bản sắc cá nhân của người sử dụng thông qua các sản phẩm ĐTDĐ mới ra của họ, trong khi cách nhà cung cấp dịch vụ Internet cho ra đời những phần mềm, chương trình cũng hướng tới để mỗi cá nhân có thể thể hiện mình. Viết blog ngày càng phổ biến hay việc tải hình ảnh của chính mình lên mạng để lưu trữ, gửi cho bạn bè, hay sự ra đời và phát triển nhanh chóng của YouTube để chia sẻ các hình ảnh riêng tư, độc đáo hay sự bùng nổ của game online chỉ là những thể hiện cụ thể của quá trình cá nhân hoá. Nghiên cứu của Lycett và Dunbar cho thấy “ĐTDĐ là đồ dùng cao cấp để khẳng định địa vị xã hội của một người. Nó có vị trí đặc biệt trong giao tiếp kết bạn. Nó gây ấn tượng nhiều hơn là máy tính xách tay, dù máy tính xách tay có giá thị trường cao gấp 20 lần so với ĐTDĐ. Mang máy tính xách tay vào quán xá thì không…. mốt bằng ĐTDĐ” [69].

Vai trò của cá nhân được đề cao. Điều này không chỉ được thể hiện trên các PTTTM mà nó còn ảnh hưởng đến các phương tiện truyền thông truyền thống như truyền hình, báo viết hay radio. Các chương trình có tương tác với các PTTTM ngày càng phát triển như các bình chọn ca sỹ, diễn viên thông qua nhắn tin từ điện thoại, bình chọn qua mạng, hay giờ đây có cả các chương trình có tính tương tác cao với các PTTTM khi ý kiến cá nhân được thể hiện trực tiếp trên truyền hình hay kết quả bình chọn của họ có tác dụng trực tiếp đến kết quả của bài hát. Hàng loạt các chương trình truyền hình cho phép

43

khán giả được hỏi trực tiếp các nhân vật truyền hình thông qua các PTTTM.

Nói chung, ĐTDĐ và Internet khiến cá nhân ý thức về cái tôi của mình một cách rõ ràng hơn. Và trong tương lai, việc những phần mềm giúp thể hiện “cái tôi” sẽ ngày càng phổ biến do nó đáp ứng đúng nhu cầu cá nhân hoá đang chiếm lĩnh thế giới mà chúng ta đang sống. Thời đại ngày nay là thời đại của các cá nhân. Chưa bao giờ, thế giới này có nhiều cá nhân như bây giờ, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Người dân Việt Nam dù ở các đô thị lớn, đã mang nhiều tính cách thị dân, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi bản sắc văn hoá Việt, ở đó, tính cộng đồng được đề cao trong khi vai trò của cá nhân vẫn chỉ dừng lại ở một mức độ hạn chế. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế cũng như quá trình hoà nhập nhanh với đời sống chính trị, văn hoá, xã hội của thế giới, đời sống văn hoá của người dân đô thị cũng có nhiều thay đổi hơn trong đó đặc biệt vai trò của các cá nhân dẫn dần được đề cao. Các PTTTM giúp thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình này nhờ việc các cá nhân ý thức hơn về bản thân mình thông qua các tương tác với những người khác bằng phương tiện riêng, địa chỉ riêng, tên riêng của chính bản thân mình.

Phải nói rằng, đời sống văn hoá đô thị hiện nay có những thay đổi hết sức cơ bản. Các sinh hoạt văn hoá phục vụ việc thể hiện “cái tôi” của mỗi người đang phát triển mạnh mẽ. “Cái tôi” có thể là “cái tôi” của bản thân, cũng có thể là “cái tôi” của một nhóm bạn hay một thế hệ 8X, 9X, 10X. “Cái tôi” đó có thể được thể hiện bằng một kiểu đầu “sành điệu”, không giống ai, hay những cách ăn mặc, trang điểm bắt chước các hình mẫu lý tưởng (thần tượng) là các diễn viên/ca sĩ Hàn Quốc, hay những kiểu trang phục được thiết kế riêng cho mỗi người… cũng có thể được thể hiện qua những chiếc ĐTDĐ đời mới nhất hay những nick name, avatar, group... rất riêng trên MXH.

Trong môi trường Internet, cái tôi của mỗi cá nhân có thể được thể hiện một cách rõ ràng nhất. Giờ đây, mỗi người sử dụng e-mail đều có một không

44

gian riêng cho mình, với Blog, MXH (Facebook, YouTube, Instagram...), thư viện ảnh, diễn đàn… và rất nhiều thứ để tạo ra một thế giới riêng cho người sử dụng. Mỗi người còn có thể thể hiện mình hơn nữa bằng cách tạo ra các website riêng, group riêng - điều mà những nhân vật nổi tiếng vẫn thường làm, như trang web, fanclub trên mạng của Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Noo Phước Thịnh, Sơn Tùng MTP… như một kênh đối thoại riêng với bản thân và với mọi người.

Để minh chứng cho ảnh hưởng của các PTTTM đối với đời sống văn hoá qua việc thể hiện “cái tôi”, chúng tôi xin lấy một ví dụ về một hiện tượng đã gây được nhiều sự chú ý của xã hội, đó là sự phổ biến của phần mềm YouTube. Tháng 2 năm 2005, YouTube ra đời đánh dấu một sự lên ngôi của

“cái tôi”. Chỉ sau hơn 1 năm, lợi nhuận mà YouTube thu được là 1,65 tỷ đô la (tháng 10 năm 2006). Triết lý hoạt động của YouTube là “quảng bá chính bản thân bạn” (tiếng Anh Broadcast Yourself).

YouTube được ra đời từ nhu cầu muốn chia sẻ các hình ảnh trên mạng.

Chương trình này nhanh chóng trở thành một chương trình được nhiều người tham gia nhất trên mạng trong những năm gần đây. Nhu cầu viết, đưa những bức hình tĩnh lên mạng có lẽ chưa đáp ứng hết nhu cầu của người sử dụng và vì thế, sự xuất hiện của YouTube đã khiến người sử dụng được thoả mãn nhiều hơn. Bên cạnh đó, các thiết bị, công nghệ mới ra đời như máy quay phim, chụp ảnh kỹ thuật số, điện thoại chụp ảnh đã khiến cho các hình ảnh trở nên dễ có hơn. Khi ai cũng có những hình ảnh độc đáo về bản thân, trong những thời điểm đặc biệt, họ cũng đều muốn được chia sẻ với mọi người. Đó là lý do khiến Youtube trở nên phổ biến và thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tất nhiên, các hình ảnh đưa lên mạng qua YouTube hay chỉ là phát tán những đoạn phim, băng hình sẽ khiến số lượng về chúng trở nên quá nhiều và nội dung cũng rất hỗn tạp. Theo đó, những nội dung không phù hợp có liên quan đến tình dục hay bôi nhọ các cá nhân cũng xuất hiện nhiều trên mạng.

45

Việc bùng nổ của YouTube (hay Blog trước đây) đã khiến cho nhiều nhà quản lý xã hội quan tâm với thái độ lo lắng. Điều này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn gây ra tranh luận rất nóng ở nhiều quốc gia. Một hội thảo tổ chức ở Anh cho rằng blog cũng cần phải tuân theo một khung luật pháp tương đương với báo chí nhưng chỉ dựa trên quy tắc chung của cộng đồng mạng chứ không nên bị Chính phủ quản lý. Các blog hay phim được gửi đến YouTube cần phải đảm bảo những nguyên tắc của báo chí như tự do nhưng không được phép xâm phạm đến đời tư của người khác, tuân thủ pháp luật nói chung...

Nhìn chung, việc tự do thể hiện, biểu đạt là nhu cầu cần tôn trọng, nó sẽ góp phần giúp nảy nở tính sáng tạo của cá nhân, và sau đó là cộng đồng; tuy nhiên những giới hạn về đạo đức, chính trị cũng cần được mọi cá nhân tôn trọng.

Tại Malaysia, Chính phủ cũng đã từng có chủ trương yêu cầu chủ nhân blog công bố danh tính để tránh những bình luận quá khích trong nhật ký. Chính phủ Trung Quốc cũng từng chỉ đạo soạn luật để quản lý blog vì lo ngại chủ nhân của nhật kí điện tử thể hiện các quan điểm cực đoan và phô bày ảnh

“mát mẻ”. Còn ở Việt Nam, Bộ Tư pháp và Bộ Văn hoá - Thông tin (cũ) cũng đã có những dự định trong việc kiểm duyệt nội dung thông tin, đặc biệt của các blog, đưa lên mạng. Dưới góc độ quản lý, chúng tôi tán thành sự kiểm duyệt này nhưng luôn cho rằng hành động tự nguyện vẫn được đánh giá cao hơn so với những biện pháp cưỡng chế, có nghĩa là, những người tham gia cộng đồng mạng luôn ý thức được việc đưa thông tin của mình sẽ có ảnh hưởng thế nào đối với thuần phong mỹ tục của dân tộc cũng như những lợi ích quốc gia nhất định. Vì thế, công tác tuyên truyền, giáo dục phải luôn được đặt lên vị trí hàng đầu.

Trên thực tế, đời sống văn hoá của người dân sẽ chịu ảnh hưởng nhiều khi con người quá chú trọng vào “cái tôi” của mình. Khi người ta quá quan tâm đến bản thân mình thì họ sẽ trở nên ích kỷ và lãng quên những lợi ích tập thể. Đối với các đô thị lớn như Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, quá trình cá nhân

46

hoá và việc thể hiện “cái tôi” quá mức còn được tăng cường hơn nữa bởi quy mô gia đình ít con (chỉ 1 hoặc 2 con), đời sống kinh tế khá giả và sự bận rộn của các bậc cha mẹ sẽ không có thời gian rảnh rỗi cho con cái khiến cho các PTTTM trở thành “những người bạn thân thiết nhất” của giới trẻ.

Rõ ràng, quá trình cá nhân hoá và nhu cầu thể hiện “cái tôi” cũng có thể có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với đời sống của cư dân đô thị tuỳ vào những điều kiện và trường hợp cụ thể. Nhưng, đây là quá trình tất yếu trong bối cảnh xã hội hiện nay.

1.1.2.2. Vòng xoáy của sự im lặng

Năm 1974, Noelle Neumann giới thiệu khái niệm “vòng xoáy của sự im lặng” (spiral of silence) nhằm cố gắng giải thích một phần dư luận xã hội được hình thành như thế nào. “Vòng xoáy của sự im lặng” thực chất đề cập đến tại sao con người thường có xu hướng giữ im lặng khi họ cảm giác thấy quan điểm của mình là thiểu số. Bà cố gắng giải thích dựa vào ba giả định: 1) con người có khả năng tự thống kê, một thứ giác quan thứ sáu, cho phép họ biết dư luận xã hội nào đang chiếm vị trí ưu trội, thậm chí không cần có sự tổ chức trưng cầu ý kiến; 2) con người luôn sợ bị cô lập và biết những hành vi như thế nào có thể dẫn họ tới việc bị xã hội cô lập; 3) con người không dễ bộc lộ các ý kiến thiểu số của mình, chủ yếu do lo sợ bị cô lập.

Con người càng tin vào ý kiến nào tương tự với ý kiến công luận ưu trội, họ càng sẵn lòng bộc lộ ý kiến của mình trước mọi người. Sau đó, nếu tình cảm công chúng thay đổi, người đó sẽ nhận ra rằng ý kiến của mình không còn được ưu thích và sẽ ít sẵn lòng thể hiện ý kiến đó ra trước mọi người. Khi ý kiến của cá nhân và công luận càng cách xa nhau, người đó càng không muốn thể hiện ý kiến của mình. Các ý kiến của thiểu số, khác biệt so với tư tưởng thống trị không có cơ hội được bày tỏ và chia sẻ trong xã hội vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan. Về chủ quan, những người có ý kiến khác với đa số không muốn bày tỏ ý kiến của mình khi họ biết rằng họ chỉ là thiểu số, và với

Một phần của tài liệu 22-Nguyễn Thị Lan Hương.pdf (Trang 42 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(253 trang)