Mạng xã hội trên thế giới

Một phần của tài liệu 22-Nguyễn Thị Lan Hương.pdf (Trang 60 - 66)

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI

1.2. Khái quát về quá trình hình thành, phát triển của mạng xã hội trên thế giới, ở Việt Nam và diện mạo một số mạng xã hội phổ biến

1.2.1. Mạng xã hội trên thế giới

Có một thực tế không thể phủ nhận là MXH luôn đồng hành cùng với sự phát triển của Internet. Internet và các nội dung chia sẻ luôn gắn liền với tính chất cộng đồng khi mục tiêu chính của nó là tạo ra phương tiện để mọi người có thể kết nối, giao tiếp và tương tác với nhau. Từ khi xuất hiện cho đến nay, MXH đã trải qua nhiều thay đổi nhanh chóng cả về nguyên lý làm việc lẫn giao diện đồ họa.

Lịch sử của Internet là câu chuyện về phương pháp kết nối và truyền đạt thông tin của con người. Từ email đầu tiên được gửi đi bởi những nhà nghiên cứu người Mỹ vào những năm 1970 đến các trang MXH đẹp mắt như Pinterest, lịch sử của mạng Internet gắn liền với câu chuyện của những con người với nhau. Và câu chuyện đó chính là MXH. Nhiều năm trước khi Facebook phát triển lên đến hàng tỷ người dùng như hiện nay, Internet đã cho phép con người có thể kết nối với nhau cho dù cách nhau đến nửa vòng trái đất. Những hoạt động nhỏ nhất của con người đều có thể gắn liền với MXH và Internet - là phương tiện duy trì mối quan hệ cho loài người trong hơn 40 năm qua. Có thể khái quát quá trình hình thành và phát triển của MXH qua các mốc sự kiện tiêu biểu như sau:

Theo các nhà nghiên cứu, mặc dù mới chính thức ra mắt gần đây khi đã hội tụ đầy đủ các điều kiện nền tảng nhưng thực chất mầm mống của MXH đã xuất hiện từ khá lâu. Khởi điểm cho thời đại kết nối không giới hạn như ngày nay đã diễn ra từ những năm 70 của thế kỷ trước.

58

Dấu mốc đầu tiên là năm 1971, các nhà nghiên cứu tại ARPA (Cơ quan nghiên cứu dự án cao cấp) đã gửi tin nhắn email đầu tiên. Thư điện tử đầu tiên được gửi đi giữa hai chiếc máy tính nằm cạnh nhau với thông điệp ngắn gọn gồm dãy ký tự hàng đầu từ phía trái trên bàn phím chuẩn hiện nay

“QWERTYUIOP”.

Năm 1978, hệ thống trao đổi thông tin dữ liệu BBS điện thoại đường dài hoạt động được thiết lập. Ngoài ra, những trình duyệt sơ khai thời kỳ đầu cũng bắt đầu “lây lan” khắp nơi thông qua USENE, một trong số những nền tảng BBS đầu tiên.

Năm 1980, Usenet tham gia lĩnh vực đọc và gửi tin nhắn thông qua các bảng thông báo. Đã có hàng nghìn chuyên mục được lập với các chủ đề như khoa học, âm nhạc, văn học và thể thao.

Năm 1991, nhà khoa học Tim Berner-Lee thuộc Phòng thí nghiệm vật lý vi mô châu Âu (CERN) đã đề xuất một giao thức mới để phát tán thông tin. Giao thức đính kèm đường dẫn dưới dạng ký tự ẩn dưới những ký tự khác (link). Và cuối cùng hình thành nên giao thức kết nối Internet World Wide Web (www).

Năm 1994 gắn với tên tuổi của trang Geocities - được cho là nền tảng tiên phong của MXH ngày nay với các tính năng cơ bản cho phép người dùng khởi tạo và phát triển các website cá nhân. Tuy nhiên, do công nghệ lạc hậu và thiếu linh hoạt trong chiến lược phát triển, Geocities đã buộc phải đóng cửa. Trong năm này, Justin Hall - một sinh viên của Đại học Swarthmore đã phát triển website mang tên Justin’s Link from the Underground để kết nối với thế giới bên ngoài. Hall đã xây dựng trang web trong suốt 11 năm và anh được mệnh danh là “cha đẻ của trang blog cá nhân”.

Năm 1995, được coi là mốc thời gian mở đầu cho kỷ nguyên MXH với sự ra đời của trang Classmate.com. Tại thời điểm năm 1995 MXH này đã có tới 50 triệu người dùng. Đây là một con số kỷ lục khi mà trong thời kỳ đó Internet vẫn còn rất sơ khai. Thông qua trang Classmates.com những người di

59

cư có thể tìm lại bạn bè đã thất lạc của họ. Đây là một dịch vụ cộng đồng được tạo ra để giúp tìm lại những bạn học từ thời tiểu học, trung học và đại học của người dùng. Trường hợp ứng dụng thành công đầu tiên là của Ray Sears khi anh đã tìm được Gina - người bạn học chung lớp 7 thông qua danh sách trên Classmate.com. Anh đã tiếp cận được với cô bạn Gina bằng dịch vụ nhắn tin với câu hỏi “Em còn nhớ anh không?”. Và cô ấy đã trả lời: “Làm sao em quên được tình yêu đầu của em”. Sau sự kiện này, Ray và Gina đã có một đám cưới hạnh phúc. Có thể nói, Classmates.com đã thành công khi cho phép người dùng họp lại bạn bè cũ hoặc tìm lại các mối tình lâu năm như trường hợp của Ray và Gina. Classmates.com chính là một ví dụ điển hình cho việc dùng công nghệ để nhen nhóm lại các mối quan hệ ngoài đời thực.

Năm 1996, bộ máy tìm kiếm Ask.com đã lập nên trang mạng Askjeeve.com cho phép người dùng đặt các câu hỏi bằng ngôn ngữ tự nhiên thay vì sử dụng các từ khóa tìm kiếm.

Năm 1997, American Online đã giải phóng hàng triệu người khi cho phép họ có thể trò chuyện thời gian thực với nhau. Một trong những Blogger đầu tiên là John Barger đã lập nên trang Weblog. Người ta cũng nhắc tới sự xuất hiện của SixDegrees vào năm này với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích.

Năm 1998, cộng đồng nhật ký online Open Diary cho phép người dùng đăng tải cá nhân hoặc chia sẻ cộng đồng online nhật ký trực tuyến của họ mà không cần biết về HTML. Người dùng có thể nhận xét về nhật ký của những người dùng khác. Sự ra đời của Opendiary.com (cùng với Care2.com) có thể xem là nhằm đối trọng với Classmate.com.

Năm 1999 đánh dấu sự bùng nổ về MXH với khá nhiều trang MXH được ra đời: Xanga.com, Kiwwibox.com, BalckPlanet.com, Vampirefreaks.com và đặc biệt là Livejournal và Blogger. Thông qua hai trang mạng này, người dùng

60

có thể cầm chiếc bút ảo của họ và giao tiếp với bạn bè và người thân. Đây được coi là 2 công cụ viết blog sớm nhất.

Năm 2000, Jimmy Wales và Larry Sanger đã sáng lập nên Wikipedia - Bách khoa toàn thư nguồn mở trực tuyến và có tính cộng tác đầu tiên trên thế giới.

Kể từ thời điểm này, mạng lưới Internet đã chính thức bao phủ khắp thế giới.

Năm 2001, Meetup.com giúp người dùng chia sẻ cảm xúc cá nhân như yêu thích, đam mê và thú vui của họ. Mục đích duy nhất của Meetup.com là tạo điều kiện cho những người có cùng suy nghĩ gặp gỡ, trò chuyện, chia sẻ, học tập và kết nối. Trang web này cũng hướng tới mục đích “đưa” mọi người ra khỏi nhà, tham gia vào các mối quan hệ và giao tiếp với những người khác.

Năm 2002, trang MXH nổi tiếng Friendster.com xuất hiện. Đây được coi là tên tuổi tiên phong hỗ trợ kết nối và chia sẻ trực tuyến giữa những người thân sống ở đời thực. Friendster.com hoạt động dựa vào chính người dùng, cho phép người dùng tạo thông tin cá nhân và kết nối ảo với những người khác.

Friendster đã trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh. Sau 3 tháng đầu ra mắt, đã có tới 3 triệu người tham gia và trung bình cứ 126 người dùng Internet thì có một người có mặt ở đây. Đây là MXH đầu tiên trên thế giới đạt được hơn 1 triệu người dùng. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh này cũng là con dao hai lưỡi khi server của Friendster thường bị quá tải mỗi ngày, gây bất bình cho rất nhiều thành viên.

Năm 2003, trang MXH trực tuyến MySpace ra đời đã gây được sự chú ý cho giới trẻ. Với các tính năng như phim ảnh (embedded video) nó đã nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mỗi ngày, các thành viên cũ của Friendster đồng loạt chuyển qua MySpace. Kết quả là chỉ trong vòng một năm, MySpace đã trở thành MXH đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google.

Phiên bản đầu tiên của MySpace chỉ được thiết kế trong vòng đúng 10 ngày và chỉ trong vòng 1 tháng sau khi ra mắt đã có hơn 1 triệu tài khoản được đăng ký. Cũng trong năm 2003, hàng trăm người từ khắp nơi trên thế giới đã

61

cùng nhau tạo nên WordPress - một hệ thống quản lý nội dung trực tuyến mã nguồn mở miễn phí. Nền tảng blog dễ sử dụng và quản lý nội dung như Wordpress cho phép người dùng truyền đạt thông tin trực tuyến mà không cần có kiến thức chuyên môn về ngôn ngữ HTML.

Vào tháng 2 năm 2004, Mark Zuckerburg đã giới thiệu TheFacebook.com - một trang MXH dành cho sinh viên đại học. Mark đã tạo nên Facebook trong phòng ngủ tập thể tại Đại học Harvard. Sự ra đời của Facebook đã đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống MXH trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ (apps) mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng. Facebook Platform nhanh chóng gặt hái được thành công vượt bậc, mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp không nhỏ cho con số trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên trang này mỗi ngày. Thống kê cho thấy, năm 2008, Facebook đã vượt mặt MySpace để trở thành MXH số một thế giới. Và hiện nay, Facebook vẫn tiếp tục có tốc độ phát triển chóng mặt với số lượng người dùng đông nhất, vào khoảng 600 triệu, trong khi cả Friendster và MySpace đều có dấu hiệu chững lại. Cùng với Facebook, trong năm 2004, nhóm Flickr đã tạo nên một trình duyệt độc lập dựa trên ứng dụng chia sẻ hình ảnh.

Năm 2005, nền tảng chia sẻ mới của YouTube cho phép người dùng tự do upload và chia sẻ video với gia đình và bạn bè.

Tháng 3 năm 2006, “tiểu” blog Twitter cũng kịp thời ra đời, ghi dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của MXH. Xuất hiện trong một dự án nghiên cứu và phát triển của trang web tìm kiếm Odeo - công ty có trụ sở tại San Francisco, Mỹ, Twitter đã trở thành công cụ hay được xem như cách thức đơn giản nhất cho phép mỗi cá nhân có thể truyền đạt thông tin, chia sẻ trạng thái của mình đến với một nhóm lớn bạn bè và những ai quan tâm một cách nhanh chóng và dễ dàng. Tháng 2 năm 2009, Twitter được xếp là MXH lớn thứ ba thế giới, sau Facebook và MySpace với số thành viên lên đến 6

62

triệu người và số người truy cập hằng tháng lên tới 55 triệu. Tại thời điểm năm 2008, cùng với Facebook, Twitter đã trở nên phổ biến hơn hẳn và vượt mặt MXH tiền nhiệm Friendster. Kỷ lục của Twitter đã đạt được tại thời điểm diễn ra trận bóng đá giữa Nhật Bản và Đan Mạch ở vòng chung kết World Cup 2010 khi có trung bình 3282 tweet được đăng tải trong 1 giây. Mặc dù hiện tại Twitter đang yếu thế trước Facebook song dù sao trang mạng này cũng đã vượt qua được Friendster từ khá lâu và vẫn đang tiếp tục chinh phục Myspace. Bên cạnh đó, trong năm này còn phải kể đến sự xuất hiện của Spotify - một công cụ streaming âm nhạc cho phép người dùng chia sẻ playlist để cùng nghe nhạc với những người khác và để cho họ thấy những đẳng cấp âm nhạc thực sự.

Năm 2007, Tumblr xuất hiện đã kết hợp blog và MXH lại với nhau cho phép người dùng chia sẻ hình ảnh, văn bản, lời phát biểu và các đường dẫn với cộng đồng giao tiếp trực tuyến của họ một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Năm 2008, Andrew Mason đã giới thiệu dịch vụ giảm giá mỗi ngày Groupon để tận dụng sức mạnh tập thể của một nhóm nhiều người.

Năm 2009 xuất hiện Foursquare là MXH chia sẻ địa điểm. Người dùng

“check-in” tại mọi địa điểm từ khắp nơi trên thế giới và theo dõi địa điểm của bạn bè.

Năm 2010, Google đã cố gắng kết hợp sản phẩm Gmail với các công cụ cộng đồng khác thành sản phẩm Google Buzz.

Năm 2011 đánh dấu sự góp mặt của Google+ là một MXH có đầy đủ tính năng của Google. Người dùng Google+ đánh giá cao khả năng nhóm các danh sách liên lạc vào một đoạn khác nhau (thường gọi là Vòng) và giao tiếp với nhau qua công cụ chat Video có tên là Hangouts.

Năm 2012, Pinterest - MXH hình ảnh đồ họa gây ấn tượng với việc cán mức 10 triệu người dùng. Pinterest được nhìn nhận là phát triển nhanh hơn bất cứ trang web độc lập nào khác.

63

Theo các chuyên gia, thời điểm hiện tại vẫn còn quá sớm để có thể trả lời được câu hỏi MXH trên thế giới sẽ đi về đâu một cách chính xác. Song có một thực tế không bao giờ thay đổi, đó là MXH là mạng lưới truyền thông toàn cầu giúp kết nối tất cả chúng ta lại với nhau.

Một phần của tài liệu 22-Nguyễn Thị Lan Hương.pdf (Trang 60 - 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(253 trang)