CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 30 - 33)

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN

1.6. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN

1.6.1.1. Chức năng thông tin

Chức năng thông tin của kế toán thể hiện qua việc kế toán thu nhận và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của đơn vị. Những thông tin của kế toán cung cấp cho phép các nhà quản trị có được lựa chọn hợp lý để định hướng hoạt động của đơn vị một cách có hiệu quả.

Với chức năng này, kế toán phản ánh mặt lượng trong mối quan hệ với mặt chất về thực trạng hoạt động của các đối tượng kế toán. Thông tin do kế toán cung cấp được sử dụng để quản lý nền kinh tế quốc dân nói chung và quản lý từng tổ chức trong nền kinh tế nói riêng. Các thông tin này giúp cho chủ thể quản lý đánh giá được thực trạng hoạt động của đối tượng quản lý, trên cơ sở đó sẽ so sánh kết quả đạt được với mục tiêu do hệ thống quản lý đặt ra.

Sơ đồ 1.8. Chức năng thông tin của kế toán

Kế toán cung cấp thông tin dưới dạng các chỉ tiêu kinh tế và có cơ sở khoa học. Các thông tin này mang tính đặc trưng hoạt động của mỗi đối tượng được quản lý trong nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ của kế toán là cung cấp đầy đủ cho nhu cầu của quản lý về thông tin các quá trình hoạt động và các sự kiện mà nó kiểm soát, trên cơ sở các số liệu đã lượng hoá bằng chỉ tiêu giá trị. Ngoài phạm vi đơn vị, thông tin của kế toán còn giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư đưa ra các quyết định liên quan đến lĩnh vực quản lý của đơn vị.

1.6.1.2. Chức năng kiểm tra

Thông qua việc ghi chép, tính toán, phản ánh, kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị. Từ đó kế toán kiểm tra việc tính toán, ghi chép, phản ánh về mặt chính xác, kịp thời, trung thực rõ ràng; kiểm tra việc chấp hành các chế độ, chuẩn mực kế toán và kết quả hoạt động của công tác kế toán.

Thông qua chức năng kiểm tra sẽ đánh giá được tình hình chấp hành các chính sách, chế độ quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước, tình hình sử dụng và bảo quản tài sản, tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán, thu nộp ngân sách. Thực hiện tốt chức năng kiểm tra là cơ sở để kế toán cung cấp thông tin đáng tin cậy phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá đầy đủ, đúng đắn tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị trong từng thời kỳ nhất định, ra các quyết định đúng đắn, phù hợp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. Chức năng kiểm tra bao gồm kiểm tra thực hiện kế hoạch, kiểm tra mục đích của các nghiệp vụ, kiểm tra căn cứ pháp lý của các nghiệp vụ kinh doanh, kiểm tra việc duy trì chế độ tiết kiệm và bảo vệ tài sản.

Thực hiện các chức năng cơ bản nêu trên trong cơ chế quản lý kinh tế, kế toán giữ vai trò là công cụ quản lý, được các nhà quản lý sử dụng để quản lý hoạt động của mỗi tổ

Kết thúc bằng việc ghi chép

số liệu

Hoạt động kinh tế tài chính

Hệ thống kế toán

Phản ánh, Xử lý Cung cấp

đo lường thông tin thông tin thông tin Ra quyết

định

Kết thúc bằng việc sắp xếp và tổng

hợp

Kết thúc bằng hoạt động báo

cáo Kết thúc bằng việc

ghi chép số liệu

chức nói riêng và quá trình tái sản xuất sản phẩm xã hội của toàn nền kinh tế quốc dân nói chung.

Kế toán thực hiện vai trò là công cụ quản lý nhằm thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra. Nhờ chức năng thông tin (ghi nhận và truyền tải các thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp), kế toán cung cấp các thông tin về cơ cấu tài sản, nguồn vốn, chi phí, thu nhập và lợi nhuận cần đạt được để đưa ra các quyết định hợp lý. Đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của một doanh nghiệp.

Nhờ chức năng kiểm tra, kế toán cung cấp các thông tin về tình hình tài chính chính xác, trung thực. Các thông tin này được sử dụng để dự đoán cho sự phát triển trong tương lai của doanh nghiệp, sẽ trợ giúp cho việc đưa ra các quyết định kinh tế cho giai đoạn tiếp theo.

1.6.2. Nhiệm vụ của kế toán

Với vai trò là công cụ quản lý kinh tế, vì vậy đòi hỏi kế toán phải thực hiện đầy đủ

các nhiệm vụ để thực hiện chức năng cung cấp thông tin và chức năng kiểm tra.

Theo điều Điều 4, Luật Kế toán, nhiệm vụ của kế toán được thể hiện qua các nội dung sau (Quốc hội, 2015):

1. Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.

2. Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ;

kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán.

3. Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.

4. Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.

Việc thực hiện từng nhiệm vụ có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng của thông tin kế toán.

Thu thập xử lý số liệu thành những thông tin hữu ích phục vụ công tác quản lý đồng thời phát hiện mọi khả năng tiềm tàng về kinh tế trong nội bộ đơn vị.

Tính toán và ghi chép kịp thời số hiện có, tình hình biến động của từng loại tài sản, vật tư trong mối quan hệ với nguồn hình thành nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý tài sản của đơn vị.

Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh, kế hoạch tài chính, tình hình công nợ. Giám đốc quá trình kinh doanh, củng cố và tăng cường chế độ hạch toán kinh tế. Đồng thời phải tính toán chính xác các khoản doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn.

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 30 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(240 trang)