Tính giá tài sản cố định

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 146 - 153)

Chương 5. PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ

5.2. TÍNH GIÁ MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG KẾ TOÁN CHỦ YẾU

5.2.2. Tính giá tài sản cố định

5.2.2.1. Khái niệm và tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định

Tài sản cố định là tư liệu lao động chủ yếu và có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị. Hiện nay, trong hệ thống văn bản quy định của Nhà nước không có khái niệm chung về tài sản cố định nhưng có thể hiểu tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị lớn và có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi lớn hơn một năm hay nói cách khác là tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng một năm). Như vậy có thể thấy, so với các tư liệu lao động khác thì tài sản cố định có những dấu hiệu riêng biệt và để có thể quản lý, sử dụng tài sản cố định một cách hiệu quả thì việc nhận biết, phân loại tài sản cố định phải được thống nhất theo những tiêu chuẩn được ban hành bởi các cơ quản quản lý Nhà nước.

Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 của Bộ tài chính, một tài sản được ghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

- Có thời gian sử dụng 1 năm trở lên;

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Trên thực tế thì tài sản cố định không chỉ bao gồm các tài sản đang được sử dụng tại đơn vị mà còn bao gồm những tài sản chưa sử dụng (tài sản mua mới nhưng đang lắp đặt, chạy thử chưa sẵn sàng sử dụng hay công trình xây dựng cơ bản chưa hoàn thành) hoặc không còn sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh (chẳng hạn như tài sản chưa chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng nữa).

Theo hình thái biểu hiện, TSCĐ được chia thành tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.

Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải; thiết bị quản lý…

Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới quyền sử dụng đất, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa.

5.2.2.2. Tính giá tài sản cố định a. Tính giá TSCĐ hữu hình

Nguyên giá TSCĐ hữu hình được xác định dựa trên nguyên tắc giá gốc (giá phí), là toàn bộ chi phí thực tế đơn vị phải trả hoặc tính theo giá hợp lý để có được tài sản đó tại thời điểm sẵn sàng sử dụng. Tuy nhiên, TSCĐ rất đa dạng, phong phú nên nguyên giá TSCĐ sẽ được xác định theo nguồn hình thành và loại tài sản.

* Tính giá TSCĐ mua sắm

Nguyên giá TSCĐ được xác định theo công thức sau:

Nguyên giá TSCĐ

= Giá mua +

Chi phí phát sinh

khi mua +

Chi phí lắp đặt, chạy thử

+

Thuế không được hoàn

lại

-

Các khoản

được giảm trừ Cũng tương tự khi tính giá thực tế vật tư, hàng hóa mua vào, giá mua và chi phí mua tài sản cố định có thể không bao gồm thuế giá trị gia tăng (nếu tài sản thuộc đối tượng chịu thuế và doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ) hoặc có bao gồm thuế giá trị gia tăng (nếu tài sản đó thuộc đối tượng không chịu thuế hoặc doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp).

Chi phí phát sinh khi mua là các khoản chi phí như chi phí vận chuyển, chi phí thuê kho, bãi; chi phí bốc dỡ tài sản cố định…

Đối với tài sản cố định, các khoản thuế không được hoàn lại ngoài thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường thì còn bao gồm lệ phí trước bạ đối với những tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu.

Ví dụ: Doanh nghiệp mua một dây chuyền sản xuất, giá mua chưa thuế 200.000.000 đồng, thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%, chi phí lắp đặt, chạy thử có giá chưa thuế là 10.000.000 đồng, thuế suất thuế GTGT 10%. Tài sản đã được bàn giao và đưa vào sử dụng tại phân xưởng sản xuất, thời gian sử dụng ước tính 5 năm.

Nguyên giá TSCĐ được xác định cho từng trường hợp cụ thể như sau:

- Nếu doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ:

Nguyên giá TSCĐ = 200.000.000 + 10.000.000 = 210.000.000 (đồng)

- Nếu doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp:

Nguyên giá TSCĐ = (200.000.000 + 20.000.000) + (10.000.000 + 1.000.000) = 231.000.000 (đồng)

Đối với hình thức mua trả góp, trả chậm thì nguyên giá TSCĐ được xác định như sau:

Nguyên giá TSCĐ

=

Giá mua tại thời

điểm mua

+

Chi phí phát sinh khi

mua +

Chi phí lắp đặt, chạy

thử +

Thuế không được

hoàn lại -

Các khoản

được giảm trừ Hay nói cách khác, nguyên giá của TSCĐ mua theo hình thức trả góp, trả chậm được xác định bằng nguyên giá của TSCĐ theo phương thức trả ngay. Riêng phần lãi trả góp, trả chậm không được cộng vào nguyên giá TSCĐ mà doanh nghiệp sẽ hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của đơn vị.

* Tính giá TSCĐ nhận góp vốn

Để tăng nguồn vốn kinh doanh, các đơn vị được quyền nhận góp vốn của các tổ chức, cá nhân khác. Tài sản góp vốn có thể là tiền hoặc không phải là tiền. Đối với các tài sản góp vốn không phải là tiền thì giá trị tài sản nhận góp vốn là giá thỏa thuận giữa doanh nghiệp (Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty TNHHH và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần) với bên góp vốn hoặc là giá do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp do tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá tài sản nhận góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận. Ngoài ra, theo nguyên tắc giá phí, giá tài sản còn bao gồm các chi phí phát sinh khác do bên nhận góp vốn phải trả (nếu có). Như vậy, nguyên giá TSCĐ nhận góp vốn được xác định theo công thức sau:

Nguyên giá

TSCĐ =

Giá thỏa thuận/Giá do tổ chức thẩm định giá chuyên

nghiệp định giá

+ Chi phí phát sinh bên nhận phải trả (nếu có)

* Tính giá TSCĐ tự xây dựng, sản xuất

Nguyên giá TSCĐ tự xây dựng là giá giá trị quyết toán của công trình khi đưa vào sử dụng, hay chính là chi phí sản xuất thực tế được duyệt của công trình được nghiệm thu đưa vào sử dụng.

Nguyên giá TSCĐ tự sản xuất là giá thành thực tế của tài sản cố định cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử và các chi phí phát sinh khác tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.

* Tính giá TSCĐ được biếu, tặng, cấp

Nguyên giá TSCĐ được biếu, tặng, tài trợ là giá trị trên biên bản bàn giao hoặc được đánh giá theo giá thị trường tương đương của hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp cộng (+) với các chi phí phát sinh giao nhận (nếu có) mà bên nhận phải trả như chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử…

b. Tính giá tài sản cố định vô hình

Tương tự nguyên giá TSCĐ hữu hình, nguyên giá TSCĐ vô hình cũng được xác định theo nguyên tắc giá gốc và nguồn hình thành. Trong đó, giá gốc là toàn bộ chi phí thực tế mà đơn vị phải trả để có được quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài tài sản đó. Tuy nhiên, đối với mỗi loại TSCĐ vô hình lại có những quy định riêng.

* Tính giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất

Trường hợp doanh nghiệp được giao đất có thu tiền sử dụng đất, nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất được xác định bằng toàn bộ chi phí đơn vị đã chi ra để có được quyền sử dụng đất cộng (+) với các chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (không bao gồm chi phí phát sinh để xây dựng công trình trên đất).

Trường hợp nhận vốn góp bằng quyền sử dụng đất, nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất được xác định bằng giá thỏa thuận.

* Tính giá TSCĐ vô hình là quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng

Theo Luật sở hữu trí tuệ, giá của các loại TSCĐ vô hình này là toàn bộ chi phí thực tế đơn vị phải chi ra để có được quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

* Tính giá TSCĐ vô hình là các chương trình phần mềm

Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định là toàn bộ chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để có các chương trình phần mềm đó.

* Tính giá TSCĐ vô hình là nhãn hiệu hàng hóa

Nguyên giá của nhãn hiệu hàng hóa là toàn bộ các khoản mà đơn vị đã chi thực tế có được nhãn hiệu hàng hóa.

5.2.2.3. Tính khấu hao tài sản cố định

TSCĐ là những tài sản có thời gian sử dụng lâu dài (lớn hơn 1 năm) nên trong quá trình sử dụng, giá trị TSCĐ sẽ bị hao mòn do bào mòn của tự nhiên, do quá trình sử dụng hoặc là do tiến bộ kỹ thuật. Do đó, đơn vị luôn phải tính toán và phân bổ dần giá trị của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán, nhằm mục đích thu hồi vốn đầu tư. Hay nói cách khác, đơn vị phải tính khấu hao tài sản cố định (xác định mức trích khấu hao) cho từng kỳ hạch toán.

Vì vậy, tính khấu hao TSCĐ (hay còn gọi là xác định mức trích khấu hao TSCĐ) là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng tài sản.

Đơn vị có thể sử dụng các phương pháp tính khấu hao TSCĐ sau:

a. Phương pháp khấu hao đường thẳng

Phương pháp khấu hao đường thẳng là phương pháp trích khấu hao theo mức tính

ổn định hàng năm của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng. Theo phương pháp này, mức trích khấu hao TSCĐ hàng năm, tháng được xác định như sau:

Mức trích khấu hao

hàng năm = Nguyên giá tài sản cố định Thời gian sử dụng Mức trích khấu hao

hàng tháng = Mức trích khấu hàng năm 12

Ví dụ: Doanh nghiệp mua một TSCĐ hữu hình, giá mua chưa thuế là 290.000.000 đồng, thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%, doanh nghiệp được chiết khấu mua hàng là 5.000.000 đồng. Chi phí lắp đặt, chạy thử có giá chưa thuế là 15.000.000 đồng, thuế suất thuế GTGT 10%. Tài sản đã được đưa vào sử dụng và thời gian sử dụng ước tính là 5 năm. Biết doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.

Nếu tính khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng, mức trích khấu hao TSCĐ hàng năm, tháng được xác định như sau:

Nguyên giá TSCĐ = 290.000.000 + 15.000.000 – 5.000.000 = 300.000.000 (đồng) Mức trích khấu hao

hàng năm = 300.000.000

= 60.000.000 (đồng) 5

Mức trích khấu hao

hàng tháng = 60.000.000

= 5.000.000 (đồng) 12

Phương pháp tính khấu hao đường thẳng có những ưu, nhược điểm sau:

Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ tính toán, dễ làm và giá trị của TSCĐ được phân bổ đều ở các kỳ sử dụng. Do đó, phương pháp này được rất nhiều đơn vị lựa chọn áp dụng.

Nhược điểm: Phương pháp này không đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Vì theo phương pháp này, chi phí khấu hao TSCĐ được phân bổ đều giữa các kỳ hay nói cách khác đang được ngầm hiểu là định mức sử dụng TSCĐ, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ là không thay đổi giữa các kỳ, điều này là không thực tế và không hợp lý.

b. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh

Theo phương pháp này, mức trích khấu hao hàng năm của TSCĐ được xác định như sau:

Mức trích khấu hao

hàng năm =

Giá trị còn lại của tài sản cố

định

× Tỷ lệ khấu hao nhanh (%) Mức trích khấu hao

hàng tháng = Mức trích khấu hao năm 12

Trong đó:

- Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định theo công thức:

Tỷ lệ khấu hao

nhanh (%) = Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo

phương pháp đường thẳng (%) × Hệ số điều chỉnh

- Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng được xác định theo công thức:

Tỷ lệ khấu hao theo PP đường thẳng =

1

× 100

Thời gian trích khấu hao của TSCĐ

Hệ số điều chỉnh được quy định tại Phụ lục của thông tư 45/2013/TT-BTC, cụ thể:

Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần)

Đến 4 năm (t ≤ 4 𝑛ă𝑚) 1,5

Trên 4 năm (t > 4 năm) 2,0

Những năm cuối, khi mức trích khấu hao năm theo phương pháp trên bằng hoặc thấp hơn thương số giữa giá trị còn lại chia cho số năm số sử dụng còn lại của TSCĐ thì từ năm đó trở đi, mức trích khấu hao năm được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ.

Ví dụ: Doanh nghiệp mua một thiết bị sản xuất có giá mua chưa thuế là 50.000.000 đồng, thuế suất thuế GTGT 10%, chi phí lắp đặt là 1.000.000 đồng. Thời gian khấu hao của tài sản cố định được xác định theo TT45/2013/TT-BTC là 5 năm. Biết Doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

Nếu khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh thì mức trích khấu hao hàng năm, tháng được xác định như sau:

- Nguyên giá tài sản cố định = 50.000.000 + 1.000.000 = 51.000.000 (đồng) Tỷ lệ khấu hao theo

PP đường thẳng = 1

× 100 = 20%

5 Tỷ lệ khấu hao nhanh = 20% × 2 = 40%

- Mức trích khấu hao hàng năm, tháng của TSCĐ từ năm thứ nhất đến năm thứ ba được xác định như sau (Đvt: Đồng):

Năm Giá trị còn lại của tài sản cố định

Mức trích khấu hao năm

Mức trích khấu hao tháng

1 51.000.000 20.400.000 1.700.000

2 29.600.000 11.480.000 986.667

3 19.120.000 7.648.000 637.333

Sang năm thứ tư:

- Giá trị còn lại của tài sản cố định = 11.472.000 (đồng) - Mức khấu hao năm = 11.472.000 × 40% = 4.588.800 (đồng)

Tuy nhiên, mức khấu hao này nhỏ hơn mức khấu hao bình quân của hai năm còn lại là 11.472.000 ÷ 2 = 5.736.000 (đồng), nên mức trích khấu hao của năm thứ 4 và năm thứ 5 được xác định là 5.736.000 (đồng).

Ưu điểm của phương pháp này là giúp DN thu hồi vốn nhanh, hạn chế được sự mất giá do hao mòn vô hình gây ra. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là không phù hợp với những sản phẩm hoặc loại hình kinh doanh mà tiêu thụ chậm vì theo phương pháp này TSCĐ sẽ được khấu hao nhanh ở những năm đầu, do đó gần như chúng phải đạt năng suất cao nhất. Điều này dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm càng khó và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của đơn vị nếu sản phẩm của đơn vị thuộc loại khó tiêu thụ.

c. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm

Theo phương pháp này, căn cứ vào hồ sơ kinh tế - kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp sẽ xác định số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ. Sau đó, xác định mức khấu hao cho 1 đơn vị sản phẩm và mức trích khấu hao hàng tháng theo công thức sau:

Mức trích khấu hao bình

quân cho 1 đơn vị sản phẩm =

Nguyên giá tài sản cố định Số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất

theo công suất thiết kế Mức trích khấu hao tháng

của tài sản cố định =

Số lượng, khối lượng sản phẩm sản

xuất trong tháng

×

Mức trích khấu hao bình quân cho một đơn vị

sản phẩm

Mức trích khấu hao năm bằng tổng mức khấu hao tháng hoặc bằng số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất của năm nhân (×) với mức trích khấu hao bình quân cho 1 đơn vị sản phẩm.

Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm có ưu và nhược điểm sau:

Ưu điểm của phương pháp này là có sự phân bổ chi phí hợp lý theo số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất. Do đó, sẽ đảm bảo được nguyên tắc phù hợp giữa các kỳ sản xuất. Khi đó, kỳ nào sản xuất sản phẩm nhiều thì chi phí khấu hao được chuyển vào giá thành sản phẩm nhiều, kỳ nào sản xuất ít thì chi phí khấu hao được phân bổ ít hơn. Phương pháp này sẽ thích hợp với các TSCĐ có mức độ hoạt động không đều giữa các kỳ.

Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là sự giả định về khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế là mang tính chủ quan và không tính đến các yếu tố có thể xảy ra trong quá trình sản xuất như hỏng hóc hoặc không đạt được như công suất thiết kế.

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 146 - 153)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(240 trang)