Tính giá thành sản phẩm

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 153 - 164)

Chương 5. PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ

5.2. TÍNH GIÁ MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG KẾ TOÁN CHỦ YẾU

5.2.3. Tính giá thành sản phẩm

5.2.3.1. Khái niệm và phân loại giá thành a. Khái niệm giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vật tư, lao động, vốn của đơn vị trong quá trình sản xuất. Đồng thời, giá thành còn là cơ sở

để đơn vị xác định giá bán của sản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Do đó, việc xác định chính xác, đầy đủ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý, sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Theo Trần Xuân Nam (2015), giá thành là biểu hiện bằng tiền của chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ) nhất định đã hoàn thành.

Theo Nguyễn Hữu Ánh (2020), giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.

Cùng với quan điểm trên, Huỳnh Lợi & Đào Tất Thắng (2020) đưa ra khái niệm, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được tính cho một đại lượng, kết quả, sản phẩm hoàn thành nhất định.

Như vậy có thể thấy, tất cả những khoản hao phí về vật chất, lao động, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm cả các khoản chi phí trích trước và chi phí kỳ trước chuyển sang có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm.

Tóm lại: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa tính cho khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.

b. Phân loại giá thành sản phẩm

Để đáp ứng yêu cầu quản lý, kế toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính khác nhau hay nói cách khác, giá thành được phân loại theo các tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu của nhà quản lý.

Xét theo phạm vi chi phí sản xuất, giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ.

+ Giá thành sản xuất:

Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) được cấu thành từ các chi phí sản xuất cần thiết mà đơn vị phải bỏ ra để có được một khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Giá thành sản xuất được sử dụng để ghi sổ kế toán thành phẩm đã nhập kho hoặc giao cho khách hàng và là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán, tính lợi nhuận gộp của hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ ở các đoanh nghiệp sản xuất.

+ Giá thành toàn bộ

Giá thành toàn bộ (hay là giá thành tiêu thụ) của sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Bao gồm giá thành sản xuất; chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho sản phẩm đã tiêu thụ. Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán, xác định mức lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.

Theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC, giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ được xác định như sau:

Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ

=

Giá thành sản xuất của sản phẩm tiêu thụ

+

Chi phí bán hàng tính cho sản phẩm tiêu thụ

+

Chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản

phẩm tiêu thụ Theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC, giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ được xác định như sau:

Giá thành toàn bộ của

sản phẩm tiêu thụ = Giá thành sản xuất

của sản phẩm tiêu thụ + Chi phí quản lý kinh doanh tính cho sản phẩm tiêu thụ Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu tính, giá thành sản phẩm được chia thành giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.

+ Giá thành kế hoạch

Giá thành kế hoạch là giá thành được xác định trước khi bước vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước cùng vớ các định mức, dự toán về chi phí và sản lượng của kỳ kế hoạch.

+ Giá thành định mức

Giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất sản phẩm, nhưng nó được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng). Do đó, giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm.

+ Giá thành thực tế

Giá thành thực tế của sản phẩm được xác định sau khi kết thúc sản xuất sản phẩm và dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất cùng số lượng sản phẩm đã sản xuất trong kỳ.

5.4.3.2. Đối tượng tính giá và kỳ tính giá thành

Để tính chính xác giá thành sản phẩm thì việc đầu tiên và quan trọng nhất là xác định đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành và từ đó lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp.

a. Đối tượng tính giá thành

Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành. Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn với yêu cầu của

nhà quản trị về kiểm soát chi phí, định giá bán và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng, hoạt động nào đó. Tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất cũng như quy trình công nghệ sản xuất ở mỗi đơn vị mà đối tượng tính giá thành là khác nhau. Đối với các đơn vị sản xuất, đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm hoàn thành, từng chi tiết, bộ phận của sản phẩm hoặc là từng đơn hàng đã hoàn thành. Đối với các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, đối tượng tính giá thành là dịch vụ hoàn thành. Còn đối với các đơn vị trong hoạt động xây lắp, đối tượng tính giá thành là khối lượng công việc hoàn thành, hạng mục công trình hoặc là công trình hoàn thành...

b. Kỳ tính giá thành

Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian mà bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Với mỗi đối tượng tính giá thành cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất và chu kỳ sản xuất của chúng để xác định kỳ tính giá thành cho thích hợp. Do đó, kỳ tính giá thành mà các đơn vị áp dụng có thể là hàng tháng, hàng quý, hàng năm hoặc cũng có thể là từ lúc bắt đầu quá trình sản xuất đến lúc kết thúc hoặc sản phẩm đã hoàn thành. Đối với các đơn vị sản xuất sản phẩm thông thường thì kỳ tính giá thành thường là tháng, quý. Đối với đơn vị sản xuất theo đơn đặt hàng thì kỳ tính giá thành được các định theo đơn hàng, tính từ lúc bắt đầu đến lúc hoàn thành đơn hàng. Đối với đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, kỳ tính giá thành có thể được xác định theo tiến độ kế hoạch (tháng, quý) hoặc là từ lúc bắt đầu xây, lắp đến khi công trình hoàn thành và được bàn giao. Trong nông nghiệp, với đặc thù hoạt động sản xuất thường mang tính mùa vụ nên kỳ tính giá thành được xác định theo mùa vụ hoặc là theo chu kỳ sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi.

5.4.3.3. Trình tự tính giá thành sản xuất của sản phẩm

Giá thành sản phẩm được cấu thành bởi các chi phí sản xuất. Hay nói cách khác, tính giá thành sản phẩm là xác định chi phí sản xuất cần thiết tính cho khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Trong đó, chi phí sản xuất không chỉ bao gồm chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ tính giá thành mà còn bao gồm cả chi phí sản xuất dở dang kỳ trước chuyển sang và chi phí trích trước có liên quan đến sản phẩm hoàn thành trong kỳ tính giá. Mặt khác, trong các chi phí sản xuất thì có những chi phí đã tập hợp trực tiếp theo khoản mục chi phí, đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành khi phát sinh và cũng có những chi phí đang được tập hợp chung cho nhiều sản phẩm, nhiều đối tượng tập hợp chi phí. Do đó, việc tính giá thành sản phẩm phải được thực hiện tuần tự qua các bước:

Bước 1: Tập hợp chi phí sản xuất trực tiếp

Chi phí sản xuất trực tiếp là các chi phí sản xuất đã tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí, từng khoản mục chi phí hoặc là từng đối tượng tính giá thành. Việc xác định chi phí sản xuất trực tiếp là tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo từng đối tượng tập hợp chi phí, khoản mục chi phí hoặc đối tượng tính giá để làm cơ sở

cho việc tính giá thành sản phẩm. Mặt khác, chi phí sản xuất trực tiếp còn có thể được sử

dụng làm tiêu thức để phân bổ các chi phí sản xuất đang tập hợp chung cho nhiều đối tượng. Trên thực tế, chi phí sản xuất trực tiếp có thể bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Tuy nhiên, thường chỉ có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp mới được tập hợp trực tiếp theo từng đối tượng tập hợp chi phí.

Bước 2: Phân bổ chi phí chung cho các đối tượng

Chi phí chung là các chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng và đang được tập hợp chung, chưa chi tiết theo các đối tượng, khoản mục chi phí. Thông thường, chi phí sản xuất đang tập hợp chung cho nhiều đối tượng là chi phí sản xuất chung, gồm các chi phí như chi phí nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật tư sử dụng cho quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ của bộ phận sản xuất và các chi phí dịch vụ mua ngoài sử dụng cho sản xuất... Đây là những chi phí dùng chung cho nhiều sản phẩm, nhiều đối tượng tính giá nên rất khó để có thể chi tiết ngay cho từng đối tượng khi nó phát sinh mà thông thường sẽ được tập hợp chung sau đó phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu thức nào đó, chẳng hạn như theo chi phí trực tiếp, khối lượng sản phẩm, số giờ lao động, hoạt động hoặc là theo định mức...

Công thức phân bổ chi phí như sau:

Chi phí sản xuất chung phân bổ cho đối tượng thứ i =

Tổng chi phí sản xuất chung cần phân bổ

× Tiêu thức phân bổ của đối tượng thứ i Tổng tiêu thức phân bổ

của các đối tượng Bước 3: Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

Như đã trình bày ở phần khái niệm, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất cần thiết tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành. Tuy nhiên, khi kết thúc một chu kỳ sản xuất thì có thể có những sản phẩm chưa hoàn thành, chưa hoàn thiện và cần phải trải qua một số công đoạn nữa mới hoàn thành (còn gọi là sản phẩm dở dang). Do đó, để tính chính xác giá thành của sản phẩm hoàn thành thì doanh nghiệp phải đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ hay nói cách khác là xác định chi phí sản xuất của khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.

Để đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp như: Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương và đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức.

Bước 4: Tính tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị sản phẩm

Sau khi xác định được chi phí sản xuất trong kỳ và chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ, giá thành sản phẩm được xác định theo công thức sau:

Tổng Giá thành sản phẩm

=

Chi phí sản xuất sản phẩm dở

dang đầu kỳ +

Chi phí sản xuất thực tế phát sinh

trong kỳ

-

Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ Giá thành 1 đơn vị

sản phẩm = Tổng giá thành sản phẩm Số lượng sản phẩm hoàn thành 5.4.3.4. Phương pháp tính giá thành

Tùy vào đặc điểm sản xuất và sản phẩm của đơn vị mà giá thành sản phẩm có thể được tính theo các phương pháp sau:

a. Phương pháp giản đơn (trực tiếp)

Phương pháp này áp dụng với các đơn vị thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít nhưng sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn. Chẳng hạn như các doanh nghiệp khai thác than, quặng; doanh nghiệp sản xuất điện, nước. Ngoài ra, phương pháp còn được áp dụng cho những doanh nghiệp tuy có quy trình sản xuất phức tạp nhưng sản xuất khối lượng lớn và ít loại sản phẩm, đối tượng tính giá thành ở trong những phân xưởng riêng biệt hoặc để tính giá thành của những công việc nhất định như thi công công trình, xây lắp. Theo phương pháp này, đối tượng tập hợp chi phí là từng sản phẩm, công trình, hạng mục công trình.

Theo đó, giá thành sản phẩm được xác định như sau:

Tổng Giá thành sản phẩm

=

Chi phí SX sản phẩm dở dang đầu kỳ

+

Chi phí sản xuất thực tế PS trong

kỳ

-

Chi phí SX sản phẩm dở dang cuối kỳ Giá thành 1 đơn vị sản phẩm = Tổng giá thành sản phẩm

Số lượng sản phẩm hoàn thành

Ví dụ: Có thông tin về tình hình sản xuất sản phẩm A của doanh nghiệp X trong 10/N như sau:

1. Chi phí sản xuất dở dang đầu tháng (kỳ) của sản phẩm M là 900.000.000 đồng, trong đó:

- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp : 500.000.000 (đồng) - Chi phí nhân công trực tiếp : 250.000.000 (đồng) - Chi phí sản xuất chung : 150.000.000 (đồng)

2. Chi phí sản xuất phát sinh trong tháng của sản phẩm A là 5.000.000.000 đồng, trong đó:

- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp : 3.000.000.000 (đồng) - Chi phí nhân công trực tiếp : 1.250.000.000 (đồng) - Chi phí sản xuất chung : 750.000.000 (đồng)

3. Cuối tháng nhập kho 5.000 sản phẩm A, số sản phẩm A còn dở dang là 1.250 sản phẩm tương đương với chi phí sản xuất sản phẩm dở dang là 1.040.000.000 đồng, trong đó:

- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp : 600.000.000 (đồng)

- Chi phí nhân công trực tiếp : 275.000.000 (đồng) - Chi phí sản xuất chung : 165.000.000 (đồng) Giá thành sản phẩm A được xác định như sau:

- Tổng giá thành sản phẩm A = 900.000 + 5.000.000 – 1.040.000

= 4.860.000.000 (đồng)

- Giá thành 1 sản phẩm A = 4.860.000 : 5.000 = 972.000 (đồng) Bảng tính giá thành sản phẩm A như sau:

Bảng tính giá thành sản xuất sản phẩm Sản phẩm A

(Tháng 10/N)

Đvt: Đồng

Khoản mục chi phí

Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ

Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

Tổng giá thành sản phẩm hoàn

thành

Giá thành một đơn vị

sản phẩm hoàn thành 1. Chi phí

nguyên, vật liệu trực tiếp

500.000.000 3.000.000.000 600.000.000 2.900.000.000 580.000

2. Chi phí nhân

công trực tiếp 250.000.000 1.250.000.000 275.000.000 1.225.000.000 245.000 3. Chi phí sản

xuất chung 150.000.000 750.000.000 165.00.000 735.000.000 147.000 Cộng 900.000.000 5.000.000.000 1.040.000.000 4.860.000.000 972.000

b. Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ

Phương pháp này được áp dụng trong các đơn vị có cùng một quy trình sản xuất, ngoài thu được sản phẩm chính còn thu được cả sản phẩm phụ. Chẳng hạn như trong các doanh nghiệp chế biến dầu thô, chế biến gỗ, sản xuất đường mía…

Công thức tính giá thành được xác định như sau:

Giá thành đơn vị sản phẩm

chính

=

Tổng giá thành sản phẩm – Tổng giá trị sản phẩm phụ ước tính Số lượng sản phẩm chính

c. Phương pháp hệ số

Phương pháp hệ số áp dụng với các đơn vị mà trong quá trình sản xuất sử dụng cùng một loại nguyên vật liệu chính và một lượng lao động nhưng kết thúc quá trình sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm chính khác nhau. Theo phương pháp này, chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất.

Do đó, đối tượng tập hợp chi phí không phải là từng sản phẩm mà là phân xưởng hay quy trình công nghệ.

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 153 - 164)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(240 trang)