Kinh tế thế giới đối mặt với nhiều khó khăn trong năm 2022 khi lạm phát tăng nhanh và có nguy cơ cản trở đà phục hồi tăng trưởng ở hầu hết các nước, đặc biệt ở các nền kinh tế phát triển57. Sự leo thang của giá cả gây sức ép lớn buộc các hầu hết các nền kinh tế lớn phải tăng lãi suất, từ đó đặt nền kinh tế toàn cầu trước rủi ro suy thoái. IMF (10/2022) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 trong bối cảnh các nước đang chịu tác động từ cuộc xung đột ở Ukraine, giá năng lượng và thực phẩm tăng, lạm phát leo thang và lãi suất tăng mạnh. Theo đó, GDP toàn cầu năm 2022 dự báo ở mức 3,2% (thấp hơn nhiều so với mức 6% của năm 2021) và sẽ giảm xuống 2,7% vào năm 2023 (thấp hơn mức dự báo 2,9% IMF đưa ra vào tháng 7/2022). Tăng trưởng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng được dự báo sẽ giảm xuống 4% trong năm 2022 và 4,3% trong năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 5,5% trong hai thập kỷ qua. Lạm phát toàn cầu năm 2022 dự báo tăng lên mức 8,8% (cao hơn so với mức 8,3% dự báo vào tháng 7/2022), trước khi giảm còn 6,5% vào năm 2023 và 4,1% vào năm 2024. Lạm phát bình quân năm 2022 được dự báo ở mức 9,9% tại các nền kinh tế đang phát triển và 7,2% tại các nước phát triển là 7,2%.
55 Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,99%, đóng góp 4,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%, đóng góp 41,79%; khu vực dịch vụ tăng 10,57%, đóng góp 54,17%.
56 Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá cao, cải thiện triển vọng tín nhiệm quốc gia. Tổ chức S&P đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+, triển vọng
“Ổn định” và là một trong hai nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương được nâng bậc tín nhiệm kể từ đầu năm đến nay. Điều này tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, giúp Chính phủ mở thêm các kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển, phục vụ hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH.
57 Lạm phát tăng cao kỷ lục trong vòng 40 năm ở Hoa Kỳ, Pháp, Ý; trong vòng 50 năm ở Đức và tăng cao kỷ lục trong vòng 7 năm ở Nhật, đất nước vốn thường xuyên đối mặt với áp lực giảm phát…
Cùng với áp lực lạm phát, việc các ngân hàng trung ương ở các nền kinh tế lớn (đặc biệt Hoa Kỳ, EU) tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát tăng cao kỷ lục đang khiến các điều kiện tài chính được thắt chặt mạnh mẽ hơn. Sự lên giá của đồng USD cùng sự mất giá nhanh của các đồng tiền có thể làm cho các thách thức này trở nên khó lường hơn58. Ngoài ra, xung đột Nga - Ukraine sẽ đặt ra thêm nhiều bài toán về nguồn cung năng lượng cho châu Âu và làm suy yếu các hoạt động kinh tế ở khu vực này, giảm cầu xuất khẩu của khu vực châu Á sang châu Âu. Chính sách Zero Covid nghiêm ngặt và tình trạng bất ổn ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc làm tăng trưởng kinh tế nước này chậm lại đáng kể, ảnh hưởng đến các nền kinh tế vốn là đối tác thương mại lớn của Trung Quốc.
Trong bức tranh ảm đạm và nhiều thách thức của kinh tế toàn cầu, mặc dù Việt Nam vẫn được coi là một điểm sáng nhờ vào những kết quả đã đạt được trong 3 quý đầu năm 2022, bối cảnh mới của thế giới sẽ tạo nhiều thách thức, khó khăn cho kinh tế Việt Nam. Áp lực lạm phát thế giới gây sức ép cho việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát trong nước, tạo ra nhiều khó khăn cho việc triển khai gói phục hồi theo kế hoạch đã đề ra của Chính phủ. Giá cả năng lượng, nguyên nhiên vật liệu tăng cùng việc đồng USD tăng giá tác động không nhỏ tới ổn định sản xuất và gia tăng tác động của lạm phát chi phí đẩy do nhập khẩu lạm phát. Điều này tạo nên rủi ro nhập khẩu lạm phát do cuộc khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng giá lương thực trên thế giới vẫn đang tiếp diễn. Bình quân 10 tháng năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 2,14% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,89%). Chỉ số CPI tăng trong những tháng gần đây tăng chủ yếu do giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào; một số địa phương tăng học phí và giá thuê nhà tăng.
Việc triển khai gói phục hồi và tăng trưởng kinh tế còn nhiều khó khăn. Trong bối cảnh mới, việc thực hiện mục tiêu giảm lãi suất cho vay từ 0,5 đến 1% trong 2 năm 2022 - 2023 như đã đề ra hầu như không thể thực hiện được, khiến nền kinh tế cũng như doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã đang đối mặt với rất nhiều thách thức mới. Gói hỗ trợ lãi suất 2% mới giải ngân được khoảng 32 tỷ đồng trong 10 tháng đầu năm 2022, đạt 0,8% so với quy mô 40.000 tỷ đồng. Tiến độ giải ngân năm 2022 còn chậm với tỷ lệ giải ngân thấp của hầu hết các nội dung có nguồn vốn lớn trong Chương trình phục hồi cũng sẽ tạo ra sức ép giải ngân rất lớn cho thời gian còn lại của Chương trình, đặc biệt là trong năm 2023.
Bối cảnh mới của kinh tế thế giới và trong nước sẽ đặt ra nhiều thách thức cho công tác phối hợp hiệu quả CSTK và CSTT nhằm phục hồi và phát triển KT-XH
58 Hầu hết các đồng tiền của các thị trường mới nổi ở châu Á đã mất giá từ 5% đến 10% so với đồng USD trong năm 2022, đồng JPY mất giá hơn 20%. Những đợt mất giá gần đây đã bắt đầu tác động đến lạm phát cơ bản trong toàn khu vực và điều này có thể giữ cho lạm phát ở mức cao trong thời gian dài hơn dự kiến trước đây.
trong thời gian tới vẫn còn nhiều thách thức trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp.
Về CSTK, một số khoản thu NSNN đạt thấp, dư địa tăng thu NSNN ngày càng hạn chế trong khi áp lực chi NSNN tăng do phải thực hiện mục tiêu kép là vừa phòng, chống dịch, vừa thúc đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh, vừa phải đảm bảo nguồn lực để trả các khoản nợ đến hạn… Trong bối cảnh nguồn thu NSNN chịu nhiều tác động kém thuận lợi, trong khi đó vẫn phải đảm bảo nhu cầu chi NSNN cho các hoạt động thường xuyên, cho đầu tư phát triển, việc thực hiện các CSTK hỗ trợ người dân, DN cũng tạo ra thách thức lớn với cân đối NSNN.
Về CSTT, chính sách ưu đãi lãi suất vẫn chưa thực sự hỗ trợ được nhiều doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để có thể phục hồi do hầu hết các doanh nghiệp trong ngành có quy mô nhỏ và vừa, không có tài sản thế chấp nên gặp rất nhiều khó khăn tiếp cận tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, lạm phát thế giới tăng cùng xu hướng thắt chặt tiền tệ ở các nền kinh tế lớn, đặc biệt Hoa Kỳ, đã làm gia tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất trong nước. Theo đó, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất điều hành 2 lần trong vòng một tháng (22/9 và 24/10/2022) với mức tăng 1 điểm phần trăm/lần tăng, đưa lãi suất tái cấp vốn lên 6,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu lên 4,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng lên 7%/năm; trần lãi suất tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng lên 6%/năm từ 25/10. Lãi suất huy động duy trì xu hướng tăng với mức tăng khoảng 1 - 2,5%/năm trong 10 tháng đầu năm đối với tiền gửi có kỳ hạn, mức lãi suất huy động 9,3% đã xuất hiện tại một số ngân hàng thương mại. Mặt bằng lãi suất huy động của nhiều ngân hàng đã tăng trở lại làm tăng áp lực lên lãi suất đầu ra, khiến nhiều ngân hàng đã cập nhật biểu lãi suất cho vay mới với mức tăng từ 0,5 - 1,2% so với đầu tháng 10. Lãi suất ưu đãi cho khoản vay mới dành cho cá nhân đã tăng lên mức tối thiểu 11,5 - 13%/năm tại ngân hàng thương mại cổ phần. Lãi suất cho vay tăng cũng sẽ ảnh hưởng đến sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp vốn đang trong quá trình phục hồi, từ đó ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Trong thời gian tới, lãi suất huy động được dự báo tiếp tục tăng trong bối cảnh thanh khoản ngân hàng đang ngày càng bị thu hẹp và nhu cầu tín dụng tăng cao. Lãi suất cho vay đang chịu áp lực tăng từ chi phí vốn đầu vào tăng và từ tăng trưởng tín dụng ở mức cao do nhu cầu vay từ khách hàng tăng mạnh. Ngoài ra, những khó khăn về thủ tục cho vay cũng là trở ngại trong triển khai gói hỗ trợ cho vay lãi suất 0% dành cho doanh nghiệp để trả lương cho người lao động mất việc vì Covid-19.
Mặt khác, việc mở rộng quá nhiều quy mô tín dụng và các chính sách hỗ trợ thông qua các chương trình, các gói tín dụng ưu đãi (cả về vốn và lãi suất) nếu không được nhận diện đầy đủ, kịp thời thì không chỉ khó khăn cho điều hành CSTT trong việc cung ứng tiền từ NHNN mà còn tạo áp lực không nhỏ đến việc cân đối nguồn vốn cũng như chiến lược nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng, ảnh hưởng
đến an toàn hệ thống trong trung - dài hạn. Ngoài ra, việc kéo dài thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ (thực chất đã biến các khoản cho vay ngắn hạn thành trung dài hạn cũng như tạm thời không ghi nhận mức độ rủi ro thực tế của khách hàng), cũng sẽ tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống ngân hàng trong trung hạn.
Một số kiến nghị
Nghị quyết về Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2023 được Quốc hội thông qua vào ngày 10/11/2022 tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao năng lực nội tại, tính tự lực, tự chủ, khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế... Theo đó, tốc độ tăng GDP được xác định khoảng 6,5%, tốc độ tăng CPI bình quân khoảng 4,5%.
Để nâng cao hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT trong bối cảnh mới, đạt được các mục tiêu phát triển KT-XH năm 2023, trong thời gian tới, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm sau:
- Điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả CSTK, CSTT và các chính sách vĩ mô khác để tác động vào cả tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế;
kiểm soát chặt chẽ lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; điều tiết tiền tệ hợp lý, phối hợp chặt chẽ CSTT với CSTK, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trái phiếu Chính phủ và để các tổ chức tín dụng tiếp tục đầu tư trái phiếu chính phủ; chỉ tăng bội chi NSNN để tăng chi đầu tư phát triển, bảo đảm cân đối NSNN khi thực hiện giải pháp miễn, giảm thuế hỗ trợ phục hồi và phát triển.
- Đẩy nhanh việc thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH theo Nghị quyết số 43/2022/QH15; rà soát các quy trình, thủ tục hỗ trợ người dân và doanh nghiệp theo các gói hỗ trợ thuộc Chương trình Phục hồi và Phát triển KT-XH, điều chỉnh hoặc báo cáo Quốc hội điều chỉnh, bổ sung các quy định nhằm cắt giảm tối đa thủ tục, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp kịp thời được thụ hưởng các chính sách, sớm khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chủ động rà soát để các cơ chế chính sách hỗ trợ đúng đối tượng, gắn với trách nhiệm sử dụng hiệu quả gói hỗ trợ; qua đó, nâng cao hiệu quả các gói hỗ trợ và hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT. Đồng thời, tập trung các giải pháp tài khóa, tiền tệ nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thông qua các chính sách miễn, giảm, giãn nhiều khoản thuế, phí, lệ phí và nhiều khoản thu ngân sách nhà nước, tạo thanh khoản, giảm bớt khó khăn về dòng tiền cho doanh nghiệp tập trung vào sản xuất - kinh doanh. Đồng thời, tạo nền tảng để phát triển bền vững trong thời gian tới thông qua các chính sách về kích cầu đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào hệ thống hạ tầng quan trọng.
- Điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT; đẩy mạnh triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất 2% đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP và Thông tư
số 03/2022/TT-NHNN, trong đó các ngân hàng chưa ban hành văn bản hướng dẫn nội bộ cần khẩn trương ban hành văn bản để các đơn vị trực thuộc có cơ sở thực hiện; tiếp tục thực hiện các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận tín dụng, đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân, góp phần hạn chế “tín dụng đen”.
- Phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý giá nhằm đảm bảo kiểm soát lạm phát. Theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới để kịp thời ứng phó, giảm thiểu tác động đến giá cả, lạm phát và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Kiểm soát và có lộ trình phù hợp đối với việc tăng giá dịch vụ công, giá hàng hóa do nhà nước quản lý, đảm bảo tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI trong ngưỡng đề ra.
- Tăng cường quản lý thu, nhất là thu hoạt động thương mại điện tử, chống thất thu, chống chuyển giá, trốn thuế; tăng cường thực hiện tài chính số; nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các luật thuế và các quy định liên quan để mở rộng cơ sở thu, chống xói mòn nguồn thu, bao quát khu vực kinh tế phi chính thức…
- Tăng cường thực hiện kỷ luật, kỷ cương tài chính - NSNN; quản lý chi NSNN hiệu quả, chặt chẽ, tiết kiệm, bảo đảm kinh phí thực hiện chế độ, chính sách cho các lực lượng tuyến đầu phòng, chống dịch Covid-19 và hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng của dịch; các chính sách an sinh xã hội; các đối tượng chính sách, người yếu thế trong xã hội... và tăng cường cơ sở hạ tầng y tế để phòng chống dịch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tài chính (2022), Báo cáo tình hình thực hiện NSNN 9 tháng đầu năm 2022 (Cổng công khai NSNN).
2. Lê Thị Thùy Vân (2022), Phối hợp hiệu quả CSTK và tiền tệ để phục hồi, phát triển KT-XH, Tạp chí Tài chính, Kỳ I - Tháng 9/2022 (784).
3. Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về CSTK, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát KT-XH.
4. Nghị quyết 43/2022/QD15 ngày 11/01/2022 của Quốc Hội về CSTK, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH.
5. Tổng cục Thống kê (2022), Báo cáo tình hình KT-XH Quý III và 9 tháng đầu năm 2022.
6. Tổng cục Thống kê (2022), Báo cáo tình hình KT-XH Quý II và 6 tháng đầu năm 2022.
7. IMF (2022), World Economic Outlook, October 2022.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NGND.PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ - Giám đốc
Học viện Tài chính, Bộ Tài chính
Bài viết này với mục tiêu đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2023 và giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn 2030 cũng như các đề xuất, kiến nghị và điều kiện thực hiện giải pháp có liên quan. Việc đề xuất giải pháp dựa trên những luận cứ: (i) Ba đột phá chiến lược mà Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra; (ii) Ba đột phá của Chiến lược tài chính đến 2030 theo Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022; (iii) Thực thi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được hoạch định. Các giả định: (1) Kế thừa các đánh giá về phát triển kinh tế - xã hội những năm qua mà đặc biệt là năm 2022; (2) Tác giả đánh giá cơ hội, thách thức cho phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nhanh và bền vững, qua đó đề xuất, luận giải các giải pháp, kiến nghị.
Từ khóa: Nguồn lực tài chính, huy động nguồn lực tài chính, phát triển kinh tế - xã hội.