Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức

Một phần của tài liệu Ky Yeu Dien Dan Tcvn 2022-Text.pdf (Trang 167 - 170)

Qua nhiều diễn đàn khoa học và nghiên cứu chúng ta đã chỉ ra những hạn chế, khó khăn; cơ hội và thách thức cho phát triển KT-XH năm 2023 và giai đoạn 2023 - 2025, như sau:

Thứ nhất, diễn biến dịch bệnh phức tạp, nguy cơ “Dịch chồng dịch”.

Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức do diễn biến bất lợi từ tình hình kinh tế, chính trị thế giới làm lạm phát toàn cầu tăng cao, tăng trưởng kinh tế nhiều quốc gia suy giảm, thậm chí rơi vào suy thoái, tạo áp lực lên công tác điều hành giá, lãi suất, tỷ giá.

Thứ ba, tổng vốn FDI đăng ký 09 tháng năm 2022 giảm 15,3% so với cùng kỳ, trong đó vốn đăng ký cấp mới chỉ bằng 57%, phản ánh Việt Nam chưa tận dụng được hết các cơ hội từ xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư; ảnh hưởng đến tiềm năng mở rộng sản lượng của khu vực FDI, có thể tác động đến cán cân vãng lai, dự trữ ngoại hối, tỷ giá, khả năng thu hút công nghệ cao… trong trung và dài hạn.

Thứ tư, cơ cấu lại các lĩnh vực trọng tâm còn hạn chế, khó khăn:

- Đầu tư công tiếp tục là điểm nghẽn. Giải ngân vốn đầu tư công còn chậm trễ, chưa đạt được kết quả như mong đợi.

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

- Có nhiều khó khăn vướng mắc, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phân thành 3 nhóm chính như sau: (i) Nhóm nội dung liên quan đến thể chế, chính sách: Một số quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; một số bất cập trong cơ chế, chính sách tuy đã được phát hiện nhưng còn chậm được sửa đổi, bổ sung thuộc các lĩnh vực: đất đai, tài nguyên, môi trường, NSNN và công sản, xây dựng, đấu thầu, đầu tư công…; (ii) Nhóm nội dung liên quan đến tổ chức triển khai thực hiện: Công tác xây dựng kế hoạch đầu tư vốn NSNN chưa sát với khả năng thực hiện, việc công bố chỉ số giá xây dựng tại các địa phương chưa kịp thời, chất lượng chuẩn bị dự án thấp, năng lực của Ban Quản lý dự án, cán bộ chuyên môn làm công tác đầu tư còn nhiều bất cập, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tôn trọng kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công chưa cao….; (iii) Nhóm khó khăn mang tính đặc thù của kế hoạch năm 2022: Năm 2022 là năm thứ hai triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 (thực chất là năm đầu tiên triển khai do kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 mới được Quốc hội thông qua vào tháng 7/2021), là năm các bộ, địa phương bắt đầu khởi công mới nhiều dự án nên thông thường cần 6 - 8 tháng hoàn tất thủ tục nên tiến độ giải ngân vốn của những dự án khởi công mới chỉ được đẩy mạnh vào những tháng cuối năm.

- Tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp chậm; số lượng doanh nghiệp dự kiến cổ phần hóa, thoái vốn không nhiều. Tính tới tháng 9/2022, các Tập đoàn, Tổng công ty, DNNN thoái vốn tại doanh nghiệp với giá trị là 466 tỷ đồng, thu về 2.289,5 tỷ đồng. Thực hiện Nghị định số 148/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, Bộ Tài chính đã xuất Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp để nộp NSNN số tiền là 1.453 tỷ đồng và tất toán Quỹ.

- Dịch bệnh COVID-19 bùng phát khiến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, chi phí sản xuất tăng cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp dẫn đến nhiều doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn phải đóng cửa, sản xuất cầm chừng, không trả được nợ ngân hàng; từ đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của hệ thống các TCTD khiến nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu nội bảng có xu hướng tăng. Đến cuối tháng 7/2022, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 1,7%; tỷ lệ nợ xấu, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu của hệ thống các TCTD là 5,41%

Thứ năm, triển khai tín dụng đối với một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro gặp nhiều khó khăn: (i) Đối với tín dụng bất động sản (ii) Đối với các dự án BOT, BT giao thông: Các dự án giao thông có nhu cầu vốn lớn, dài hạn trong khi nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn; nhiều nhà đầu tư có năng lực tài chính hạn chế; khó

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

có khả năng hỗ trợ dự án khi có biến động trái chiều; nhiều dự án sụt giảm doanh thu so với phương án tài chính ban đầu.

Thứ sáu, khuôn khổ pháp lý về cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều vướng mắc do liên quan đến các lĩnh vực pháp luật khác nhau. Vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% tăng chậm hơn rất nhiều so với khối ngân hàng thương mại cổ phần, ảnh hưởng đến vai trò dẫn dắt thị trường, vai trò chủ lực, chủ đạo của toàn hệ thống. Nguồn lực hỗ trợ công tác cơ cấu lại còn hạn chế. Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước thiếu nguồn lực để xử lý tổn thất và thực hiện cơ cấu lại TCTD phi ngân hàng do mình làm chủ sở hữu hoặc là cổ đông lớn.

3.2. Về huy động nguồn lực tài chính

Một là, nguồn lực tài chính nhà nước vẫn là chủ yếu, trong khi đó dư địa để mở rộng quy mô động viên vào nguồn lực tài chính nhà nước không cao, vai trò dẫn dắt, chủ đạo của ngân sách trung ương có xu hướng giảm.

Hai là, nguồn lực tài chính từ đất đai chưa được khai thác hết tiềm năng, việc xây dựng luật đất đai mới là rất cần thiết và việc chỉnh sửa, ban hành mới các luật liên quan đến huy động nguồn lực tài chính từ đất đai càng phải đặt ra và giải quyết đồng bộ. Các chính sách tài chính liên quan đến đất đai cần giải quyết đó là: Xác định giá đất theo cơ chế thị trường định hướng XHCN; chính sách thuế tài sản, chính sách giao đất, thuê đất và chính sách miễn, giảm tiền thuê đất… hiện nay tồn tại 2 loại giá đất, giá đất theo khung Nhà nước ban hành và giá đất theo thị trường, chênh lệch giữa 2 giá đất này gây nhiều tiềm ẩn rủi ro cho phát triển KT-XH.

Ba là, chính sách thu hút đa dạng hóa nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng vẫn gặp nhiều khó khăn, cho dù đã ban hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật số 64/2020/QH14) tuy nhiên vẫn chưa phát huy hết được tiềm năng của loại hình hợp tác này. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam mỗi năm khoảng 25 tỷ USD, đây là nhu cầu nguồn lực rất lớn so với quy mô GDP của Việt Nam.

Thứ tư, cơ chế khuyến khích thu hút đầu tư tư nhân chưa có sự đột phá, các lĩnh vực như đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển số lượng và chất lượng dịch vụ công.

Thứ năm, việc thu hút vốn FDI còn chưa có chuẩn mực, chưa đồng bộ các chỉ số đánh giá, đã đến lúc cần xem xét lại các chỉ số đánh giá thu hút FDI cho hiệu quả hơn, phù hợp với các mục tiêu đột phát phát triển KT-XH.

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

Thứ sáu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhanh, đứng hàng đầu thế giới, có nhiều yếu tố bền vững. Hội nhập kinh tế Việt Nam ngày càng sâu rộng là cơ hội cho đột phá phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm, có dự báo nguy cơ rơi vào suy thoái, tuy nhiên, đối với cá nhân tôi cho rằng nền kinh tế thế giới 2023 không rơi vào suy thoái mà chỉ tăng trưởng chậm lại và có những bất ổn nhất định về chính sách tiền tệ;

Một phần của tài liệu Ky Yeu Dien Dan Tcvn 2022-Text.pdf (Trang 167 - 170)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(258 trang)