II. Một số giải pháp, nhiệm vụ nhằm phục hồi và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2025
3. Dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội và một số khuyến nghị
3.1. Dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội và những vấn đề đặt ra đối với cải cách chính sách thuế
Những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đã làm cho tiềm lực của nền kinh tế không ngừng được mở rộng. Mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Đến nay, các yếu tố của thể chế kinh tế thị trường ngày càng có vai trò lớn hơn trong quá trình huy động, phân bổ các nguồn lực xã hội. Cùng với đó, hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra các cơ hội cho Việt Nam khai thác có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, mở rộng hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Các cân đối về tài chính, NSNN bền vững hơn. Tuy nhiên, diễn biến gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức đòi hỏi cần phải có những giải pháp, chính sách phù hợp để chủ động ứng phó, trong đó, có các giải pháp về chính sách thuế. Những khó khăn, thách thức đó là:
(i) Sự phục hồi chậm của kinh tế toàn cầu giai đoạn sau dịch bệnh Covid-19 còn chứa đựng nhiều rủi ro, các bất ổn về kinh tế vĩ mô có xu hướng gia tăng, tiềm
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
ẩn các nguy cơ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Cấu trúc kinh tế thế giới dự báo sẽ có những điều chỉnh để thích ứng với các xu thế phát triển mới cũng như các thách thức mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt. Tăng trưởng kinh tế thế giới những năm tới đây dự báo sẽ vẫn còn ở mức thấp do những ảnh hưởng từ căng thẳng chính trị ở một số khu vực, giá cả của nhiều nhóm hàng hóa tăng cao, đặc biệt là giá nhiên liệu. Nhiều quốc gia sẽ phải tập trung nỗ lực để thực hiện các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Là quốc gia có độ mở lớn, những diễn biến này dự báo sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, kéo theo đó là những thách thức mới trong việc đảm bảo động viên nguồn lực cho NSNN.
(ii) Các “mô hình kinh doanh mới” và các giao dịch xuyên biên giới dựa trên nên tảng công nghệ số xuất hiện ngày càng nhiều, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây xói mòn cơ sở thuế. Sự phát triển thương mại điện tử dẫn đến sự ra đời nhiều loại hình dịch vụ, đặt ra nhiều thách thức với cơ quan thuế trong việc xác định bản chất giao dịch, vai trò của từng bên tham gia giao dịch, doanh thu, chi phí, thu nhập để vừa quản lý thu thuế phát sinh với hoạt động này, vừa để tạo công bằng trong môi trường kinh doanh cũng như tạo thuận lợi cho loại hình kinh doanh này phát triển. Các quy định về quản lý giao dịch qua biên giới, cơ sở thường trú và quản lý thuế cần phải được nghiên cứu, điều chỉnh để ứng phó với các xu thế mới, nhất là khi yêu cầu về
“sự hiện diện vật lý” trong xác định cơ sở thường trú không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay.
(iii) Các hành vi trốn, tránh thuế của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng tinh vi, phức tạp. Sự tự do luân chuyển luồng vốn, lao động và chuyển đổi cơ sở sản xuất từ nơi có chi phí cao sang nơi có chi phí thấp kết hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ, viễn thông đã làm thay đổi đáng kể cách thức và phương thức quản lý và hoạt động của các công ty đa quốc gia. Cấu trúc phức tạp về tổ chức và hoạt động của tập đoàn đa quốc gia đã và đang đặt cơ quan thuế trước nhiều thách thức để ứng phó với các hoạt động chuyển giá và các hoạt động xói mòn cơ sở thuế khác. Cùng với đó, sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là sự chênh lệch về trình độ quản lý và sự khác biệt về các chính sách ưu đãi thuế trong thu hút đầu tư nước ngoài, đang tạo ra các cơ hội cho các công ty động xuyên quốc gia lợi dụng các “kẽ hở chính sách” để né tránh hay giảm thiểu việc thực hiện các nghĩa vụ thuế có liên quan.
(iv) Yêu cầu tăng cường hợp tác thuế giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ ngày càng được chú trọng và Việt Nam không thể ở ngoài xu thế này. Xu hướng toàn cầu hóa đã làm cho vấn đề hợp tác quốc tế về thuế trở nên quan trọng đối với hầu hết các quốc gia, từ "cạnh tranh" chuyển sang "hợp tác" về thuế. Bên cạnh nhiều vấn đề lớn, mang tính toàn cầu như ứng phó biến đổi khí hậu, đòi hỏi nhiều quốc gia đang chung tay xử lý thì việc hợp tác để xử lý các thách thức thuế toàn cầu cũng đang
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
được đặt ra ngày càng cấp bách, không chỉ giữa các nước đã phát triển với nhau mà còn cả giữa các nước đã phát triển với các nước đang phát triển với nhau.
Các lỗ hổng và sự thiếu đồng bộ trong các quy định về thuế giữa các quốc gia đã đang bị các công ty xuyên quốc gia khai thác để giảm thiểu nghĩa vụ thuế phải nộp, ví dụ sử dụng các thủ thuật chuyển giá để làm giảm lợi nhuận chịu thuế hoặc chuyển lợi nhuận sang các địa bàn có ít hoặc thực tế không có hoạt động kinh tế nhưng lại những là nơi có thuế suất thấp hoặc được miễn thuế, giảm thuế. Đây là những thách thức không nhỏ đòi hỏi các quốc gia trên thế giới cần phải cùng hành động và xử lý. Gần đây, để ứng phó với các thách thức này, nhiều diễn đàn, sáng kiến hợp tác quốc tế về thuế toàn cầu đã được xây dựng và triển khai thực hiện như Diễn đàn Chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) hay Giải pháp Hai trụ cột, trong đó có Trụ cột 2 về thuế tối thiểu toàn cầu 15%. Theo đó, Việt Nam cũng cần chủ động xây dựng lộ trình và có các giải pháp để tham gia hiệu quả các diễn đàn này để cùng với các giải pháp khác, góp phần củng cố nguồn lực cho NSNN, hạn chế việc xói mòn cơ sở thuế.
(v) Cơ cấu và mức độ động viên NSNN còn chưa thực sự bền vững. Thu NSNN còn dựa vào các khoản thu từ vốn, các khoản thu có tính chất một lần, không tái tạo. Cùng với đó, dự báo thu ngân sách từ thuế nhập khẩu sẽ tiếp tục giảm những năm tới đây khi Việt Nam thực hiện cắt giảm hàng rào thuế quan theo các cam kết đã đưa ra. Mức độ tiết kiệm của NSNN cho đầu tư phát triển giảm đáng kể so với 10 năm trước. Theo đó, đảm bảo sự bền vững tài khóa trong trung vài dài hạn thông qua cải cách hệ thống chính sách thuế cần phải được xem là một trong những ưu tiên chính sách của Việt Nam. Thực tiễn này cũng đang đặt ra các sức ép khá lớn cho việc phải đẩy nhanh tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế trong những năm tới đây. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh là trong bối cảnh nền kinh tế đang phải đối mặt với nhiều biến động bất lợi do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và tình hình kinh tế thế giới thì việc thực hiện cải cách thuế để củng cố sự bền vững của nguồn lực NSNN cũng sẽ khó khăn, đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá kỹ cũng đồng thuận cao trong việc thực hiện các biện pháp cải cách đề ra.
3.2. Một số khuyến nghị, đề xuất
Những thách thức nói trên đang đặt ra những yêu cầu mới cho Việt Nam trong việc cải cách hệ thống chính sách thuế. Các giải pháp điều chỉnh về chính sách thuế trong thời gian tới đây cần phải xử lý được những vấn đề đặt ra trong ngắn hạn gắn với yêu cầu phục hồi kinh tế giai đoạn sau dịch Covid-19 và ứng phó với sự gia tăng của áp lực lạm phát và những yêu cầu có tính chất dài hạn gắn với việc củng cố, cơ cấu lại thu NSNN theo hướng bền vững. Một số khuyến nghị cụ thể là:
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
a) Về các giải pháp trong ngắn hạn
- Rà soát, trình cấp có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn, tổ chức triển khai đầy đủ, kịp thời có hiệu quả các giải pháp chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế để kịp thời giảm áp lực tăng giá và giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp khắc phục các khó khăn do dịch bệnh Covid-19 và sự gia tăng giá cả của các nhóm hàng là tư liệu sản xuất gây ra, đặc biệt là giá xăng dầu.
- Chủ động tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chính sách thuế đã được ban hành để hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp thời gian qua để kịp thời tham mưu cấp có thẩm quyền các giải pháp phù hợp trong trường hợp tình hình kinh tế trong nước và quốc tế tiếp tục biến động bất lợi trong thời gian tới đây.
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, tiết giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp; thực hiện hiệu quả việc triển khai hóa đơn điện tử.
b) Về giải pháp trung và dài hạn
Cải cách, hoàn thiện chính sách thuế được xác định là một trong những định hướng ưu tiên trong nhiều văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn của đất nước. Tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; và gần đây là Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021- 2030, Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và Nghị quyết số 23/2021/QH15 ngày 28/7/2021 về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm 2021 - 2025 đã đặt ra mục tiêu, định hướng chủ yếu đối với công tác hoàn thiện hệ thống chính sách thuế. Để thực hiện các mục tiêu này, Bộ Tài chính cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 508/QĐ-TTg ngày 23/4/2022 phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030. Đồng thời, triển khai thực hiện các nội dung tại Đề án định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV theo Kết luận số 19- KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 01/11/2021, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 2114/QĐ- TTg ngày 16/12/2021 đề ra Kế hoạch thực hiện cụ thể đối với công tác hoàn thiện hệ thống chính sách thuế.
Bám sát các định hướng nêu trên cũng như để chủ động ứng phó được các thách thức đang đặt ra, quá trình cải cách hệ thống chính sách thuế giai đoạn tới đây phải được thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở lấy việc thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát triển làm gốc. Theo đó, việc cải cách hay điều chỉnh các chính sách thuế phải không làm triệt tiêu các động lực về đầu tư và lao động của các chủ thể trong nền kinh tế. Hay nói cách khác, quá trình cải cách thuế phải hướng đặc biệt coi trọng đến yêu cầu nuôi dưỡng nguồn thu bền vững trong dài hạn.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Các giải pháp cải cách thuế đưa ra cần phải trên cơ sở cân nhắc đầy đủ các tác động của các yếu tố có liên quan, nhất là trong bối cảnh các hàng rào về mở cửa thị trường đối với nguồn vốn và lao động ngày càng thu hẹp, cạnh tranh để thu hút nguồn vốn giữa các quốc gia ngày càng gay gắt và ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với sản xuất - kinh doanh và đời sống người dân dự báo còn kéo dài. Cùng với đó, cần phát huy được một cách có hiệu quả vai trò đòn bẩy của chính sách thuế trong việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng trong nước phát triển hài hoà, cân đối theo hướng bền vững gắn với việc thực hiện các mục tiêu về đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế. Qua đó, tạo nguồn thu bền vững cho NSNN trong dài hạn. Một số định hướng cụ thể là:
- Thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về hoàn thiện chính sách thuế nhằm mục tiêu cơ cấu lại nguồn thu NSNN tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 cũng như Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021 -2025 và Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm 2021 - 2025.
- Chủ động xây dựng lộ trình phù hợp để thực hiện các biện pháp cải cách hệ thống chính sách thuế theo các định hướng đã được xác định trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 gắn với cơ cấu lại thu NSNN theo hướng bền vững. Trong thực hiện cải cách cần chú trọng đến yêu cầu về mở rộng cơ sở thuế, đảm bảo phù hợp với thực tiễn đất nước và các cam kết hội nhập và các thông lệ quốc tế tốt, đồng thời, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, công bằng, khuyến khích đầu tư, thúc đẩy cạnh tranh, điều tiết thu nhập hợp lý; bảo đảm tỷ trọng hợp lý giữa thuế gián thu và thuế trực thu; đồng thời, hoàn thiện khung khổ pháp lý để khai thác tốt các khoản thu từ đất đai, tài nguyên, BVMT.
- Rà soát, điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế, loại bỏ các ưu đãi thuế không còn phù hợp với yêu cầu phát triển để loại bỏ các chính sách ưu đãi thuế “dư thừa”;
chủ động có các biện pháp để chống xói mòn nguồn thu do sự xuất hiện của các “mô hình kinh doanh mới” và sự gia tăng của các hoạt động giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới.
- Xây dựng được các khung khổ về thuế phù hợp để tham gia hiệu quả các sáng kiến về thuế quốc tế, bao gồm Diễn đàn BEPS và Tuyên bố về Giải pháp Hai Trụ Cột nhằm giải quyết những vấn đề thuế phát sinh trong thời đại của kinh tế kỹ thuật số. Đặc biệt, việc thực hiện Trụ cột 2 về áp dụng thuế suất tối thiểu toàn cầu 15% kỳ vọng sẽ tạo ra một “sân chơi bình đẳng” cho tất cả các nước, giải quyết vấn đề thất thu thuế toàn cầu từ các hành vi chuyển lợi nhuận, đồng thời gián tiếp hạn chế “cuộc đua xuống đáy” trong giảm thuế suất thuế TNDN của các quốc gia trong thu hút vốn đầu tư.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã phê duyệt và đồng ý tham gia Trụ cột 2 như một biện pháp để ngăn chặn tình trạng xói mòn cơ sở thuế. Theo đó, Việt Nam cũng cần phải chủ động có các giải pháp để tham gia hiệu quả Trụ cột 2, nhất là đối với việc sửa đổi các quy định liên quan đến ưu đãi thuế TNDN để một mặt không làm xói mòn cơ sở thuế, mặt khác vẫn đạt được các mục tiêu trong thu hút nguồn vốn FDI, tránh tình trạng đưa ra các chính sách “ưu dãi dư thừa”, không có tác dụng trên thực tế.
- Đảm bảo sự đồng bộ giữa cải cách về thể chế liên quan đến chính sách thuế với cải cách thể chế quản lý thuế, bao gồm cả việc tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ quản lý thuế, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế dựa trên nền tảng quản lý rủi ro, ứng dụng CNTT và dữ liệu lớn. Tăng cường xây dựng cơ sở dữ liệu về thuế để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu đang đặt ra; Nghiên cứu thiết lập một cơ chế thu thập thông tin và liên kết các thông tin liên quan đến người nộp thuế xác định các hoạt động tránh thuế, trốn thuế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thị Mai Liên và Đoàn Quỳnh Hương (2022), Chính sách tài khóa của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính.
2. Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam (2017), Đánh giá chi tiêu công Việt Nam: Chính sách tài khóa hướng tới bền vững, hiệu quả và cân bằng - Báo cáo tổng quan.
3. Trương Bá Tuấn (2017), Chính sách ưu đãi thuế TNDN của Việt Nam:
Những vấn đề đặt ra và định hướng cải cách, Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam.
4. OECD (2019), Tax Policy Reforms 2019 OECD and Selected Partner Economies.
5. OECD (2021), Statement on the Two-Pillar Solution to Address the Tax Challenges Arising from the Digitalisation of the Economy.