4.3. ĐẶC ĐIỂM MÔ TẢ CÁC DẠNG SAI KHỚP CẮN
4.3.1. Đặc điểm mô tả sai khớp cắn hạng II
SKC hạng II chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số, nhiều nghiên cứu dịch tễ cho thấy dạng SKC này chiếm khoảng 15-47% dân số tùy thuộc vào chủng tộc. Trong đó, người Châu Âu da trắng thường chiếm tỉ lệ cao hơn các chủng tộc khác 4,32,35,36,97,98. Ở Châu Á và Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu, SKC hạng II chiếm khoảng 7-25%
dân số ở người trưởng thành 32-34.
Tương tự như các dạng SKC khác, SKC hạng II nếu được phát hiện, theo dõi và can thiệp đúng thời điểm có thể giúp cho những trường hợp sai hình nhẹ, do răng có cơ hội phát triển thành tương quan khớp cắn bình thường, giảm khả năng phải điều trị toàn diện sau này. Đối với những trường hợp sai hình nặng hơn, có sai biệt về xương hàm, việc can thiệp sớm có thể giúp thay đổi hướng tăng trưởng làm sai hình nhẹ hơn và tránh được điều trị phức tạp như phẩu thuật sau này 3,4,42,43,46,84. Để có thể phát hiện sớm và can thiệp đúng thời điểm, đòi hỏi Bác sĩ phải có vốn kiến thức sâu rộng về sự hình thành và phát triển đồng thời biết được những yếu tố ảnh hưởng đến dạng SKC này. Từ đó, có thể chẩn đoán đúng, theo dõi những trường hợp nguy cơ, can thiệp đúng thời điểm và can thiệp vào yếu tố nguyên nhân làm tăng khả năng điều trị thành công.
Qua kết quả phân tích mô tả từng yếu tố riêng lẻ, phần bàn luận dưới đây sẽ đề cập đến những đặc điểm về răng, cung răng, xương hàm và sọ mặt liên quan đến nhóm SKC hạng II khi so sánh với nhóm có tương quan khớp cắn hạng I bình thường.
4.3.1.1. Những đặc điểm trên mẫu hàm của sai khớp cắn hạng II
So với nhóm có tương quan khớp cắn hạng I bình thường, nhóm có SKC hạng II có những đặc điểm trên MH về răng và tương quan răng như: có độ cắn chìa lớn và duy trì từ T1-T2-T3; có khoảng E ở HD nhỏ hơn; liên quan đến MPTC RE ở bộ răng sữa cũng như tương quan ban đầu của R6 ở bộ răng hỗn hợp. Về cung răng, so với nhóm có tương quan R6 hạng I, nhóm SKC hạng II có chiều ngang cung răng HT nhỏ tương đối so với HD, ngoài ra còn có chu vi vùng răng sau HT giảm nhiều hơn từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn, phần dưới đây sẽ phân tích chi tiết từng nhóm đặc điểm:
- Đối với độ cắn chìa, so với nhóm có tương quan khớp cắn hạng I bình thường, nhóm có SKC hạng II có độ cắn chìa lớn và tình trạng này duy trì trong toàn bộ quá
trình phát triển của bộ răng. Theo nhiều tác giả, độ cắn chìa lớn ở bộ răng sữa là dấu hiệu sớm của sai biệt hai cung răng theo chiều trước sau và tình trạng này hầu như không cải thiện theo thời gian 39,40,63.
- Đối với tương quan vùng răng sau, kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm có tương quan R6 hạng II có khoảng E (là sự chênh lệch giữa kích thước gần xa RE và R5 vĩnh viễn thay thế tương ứng) ở HD nhỏ hơn nhóm bình thường. Đồng thời, tương quan RE ở bộ răng sữa và tương quan ban đầu của R6 ở bộ răng hỗn hợp đều có liên quan với tương quan R6 hạng II ở bộ răng vĩnh viễn. Những trường hợp MPTC RE dạng bậc xuống xa ở bộ răng sữa và tương quan R6 hạng II 100% ở bộ răng hỗn hợp hầu hết sẽ chuyển thành tương quan R6 sau cùng hạng II.
- Đối với kích thước chiều rộng cung răng, nhóm SKC hạng II có tình trạng bất hài hòa kích thước theo chiều ngang giữa cung răng HT và cung răng HD với chiều rộng cung răng HT nhỏ hơn trong khi chiều rộng cung răng HD lớn hơn so với nhóm bình thường, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Franchi L., Baccetti T., Tollaro…57-59,63,80. Ngoài ra, xu hướng tăng trưởng kích thước chiều rộng cung răng của HT và HD cũng trái ngược nhau. Trong khi chiều rộng cung răng HD có xu hướng gia tăng nhiều hơn nhóm bình thường thì chiều rộng cung răng HT lại gia tăng ít hơn trong quá trình tăng trưởng.
- Ngoài ra, kết quả phân tích mô tả cũng cho thấy chu vi vùng răng sau HT giảm nhiều hơn từ T2 đến T3 ở nhóm SKC hạng II. Điều này cho thấy R6 HT di gần nhiều hơn ở nhóm hạng II và vấn đề này cũng đã được nhiều nghiên cứu đề cập 6,40,99. Kết hợp thêm với vị trí R6 HT và HD trên PSN chúng tôi thấy ở nhóm hạng II, R6 HT di ra trước nhiều hơn so với nhóm bình thường trong khi R6 HD di chuyển ra trước với mức độ như nhau giữa hai nhóm. Theo thuyết di gần muộn, tương quan R6 bình thường hạng I được hình thành một phần là do R6 HD di gần vào khoảng leeway nhiều hơn so với R6 HT. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự di gần của R6 HD như nhau giữa hai nhóm trong khi sự di gần của R6 HT vào khoảng leeway mới là yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tương quan R6 sau cùng.
4.3.1.2. Những đặc điểm trên phim sọ nghiêng của sai khớp cắn hạng II
So với nhóm có tương quan khớp cắn hạng I bình thường, nhóm SKC hạng II có những đặc điểm trên phim như: RE HT ở phía trước nhiều hơn ở T1, tỉ lệ chiều dài XHD so với XHT nhỏ hơn, có TMG lớn hơn, TMD nhỏ hơn làm cho tỉ lệ giữa chiều cao TMG và TMD lớn hơn ở T2 và T3 và tỉ lệ này tăng nhiều từ T2-T3.
- Đối với những đặc điểm về răng, kết quả phân tích từng yếu tố riêng lẻ trên PSN cho thấy RE HT ở phía vị trí trước nhiều hơn ở bộ răng sữa, như vậy chứng tỏ đã có sai biệt theo chiều trước sau về vị trí răng sau trên phim từ bộ răng sữa.
- Về kích thước và tỉ lệ kích thước giữa XHT và XHD, khi phân tích trong mối tương quan giữa hai xương hàm, tỉ lệ chiều dài XHD so với XHT nhỏ hơn có ý nghĩa ở nhóm có tương quan R6 hạng II. Trong khi đó, trong phân tích riêng lẻ từng yếu tố, nhóm SKC hạng II có XHT nhô ít, XHD ngắn ở cả ba giai đoạn nhưng không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả này tương đồng với nhiều tác giả cho rằng SKC hạng II thường đi kèm với XHD ngắn 71, 66,73,75,97, 99. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chiều dài XHD không chênh lệch nhiều so với nhóm bình thường nên khi đánh giá riêng lẻ không khác biệt có ý nghĩa mà khi đánh giá trong tương quan tỉ lệ với XHT sự khác biệt mới có ý nghĩa. Vì vậy thiết nghĩ, cần thiết phải đánh giá kích thước hai xương hàm trong mối tương quan với nhau bên cạnh đánh giá riêng từng kích thước xương hàm.
- Về hướng phát triển của XHD, ở giai đoạn bộ răng sữa hướng phát triển đóng hơn nhưng ở giai đoạn T2, T3 hướng phát triển của XHD không khác biệt so với nhóm bình thường. Điều này là do nhóm SKC hạng II có khuynh hướng tăng trưởng mở nhiều hơn nhóm bình thường trong quá trình phát triển từ T2 đến T3. Chính vì thế, ngoài đánh giá hướng phát triển của XHD ở từng giai đoạn cần thiết phải đánh giá trong quá trình tăng trưởng. Về chiều cao mặt, nhiều tác giả cho rằng trẻ có SKC hạng II thường có khuynh hướng mặt dài 63,68,75,100-103. Trong nghiên cứu này, tổng chiều cao tầng mặt phía trước không khác biệt với nhóm bình thường. Tuy nhiên, khi phân tích riêng từng tầng mặt, kết quả cho thấy ở nhóm hạng II có TMG lớn hơn trong khi TMD nhỏ hơn ở T2 và T3 làm cho tỉ lệ giữa chiều cao TMG và TMD lớn ở T2, T3 và tỉ lệ này tăng
nhiều từ T2-T3. Trong khi đó, nhóm hạng I lại có xu hướng ngược lại là TMG nhỏ hơn và TMD lớn hơn.
Như vậy, SKC hạng II không chỉ đơn thuần là sai biệt tương quan R6 theo chiều trước sau mà còn liên quan đến rất nhiều yếu tố răng-cung răng-sọ mặt và liên quan tới cả ba chiều trong không gian, ngoài chiều trước sau còn có chiều ngang (chiều rộng cung răng) và chiều đứng (hướng phát triển, chiều cao tầng mặt…). Đồng thời, khi đánh giá đa yếu tố, ngoài chú trọng đánh giá từng yếu tố và trong từng giai đoạn còn cần phải chú ý đánh giá các yếu tố trong mối tương quan với nhau và trong quá trình tăng trưởng.