4.4. CÁC YẾU TỐ TRÊN MẪU HÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN SAI KHỚP CẮN HẠNG II Ở BỘ RĂNG VĨNH VIỄN
4.4.5. Các yếu tố về chiều rộng và sự tăng trưởng chiều rộng cung răng
Kết quả phân tích hồi quy logistic trên MH cho thấy có ba yếu tố về chiều rộng cung răng ảnh hưởng đến tương quan R6 sau cùng đó là: (1) Chiều rộng cung răng vùng RE HD ở bộ răng hỗn hợp; (2) Sự thay đổi chiều rộng cung răng vùng R6 HD từ bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn và (3) sự thay đổi chiều rộng cung răng vùng R6 HT từ bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn.
Về ảnh hưởng của các yếu tố chiều rộng cung răng HT, HD và sự thay đổi các kích thước này trong quá trình tăng trưởng ảnh hưởng đến tương quan R6 hạng II ở bộ răng vĩnh viễn, phần bàn luận dưới đây sẽ phân tích riêng từng cung hàm và hai cung hàm trong mối tương quan với nhau vì cung răng HT và HD liên quan chặt chẽ trong cơ chế ảnh hưởng đến tương quan R6 sau cùng.
4.4.5.1. Chiều rộng cung răng HT
Kết quả phân tích hồi quy logistic trên MH cho thấy chiều rộng cung răng vùng R6 HT trong quá trình tăng trưởng từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn tăng 1mm thì khả năng tương quan R6 ở bộ răng vĩnh viễn là hạng II 50% giảm 70%. Như vậy, chiều rộng cung răng HT tăng trưởng nhiều từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn là một yếu tố thuận lợi cho sự hình thành tương quan R6 bình thường, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Barros S.E 7. Tuy nhiên, khác với nhiều tác giả cho rằng SKC hạng II thường có hẹp cung răng HT 57,59,63,80,82, kết quả nghiên cứu này cho thấy chiều rộng cung răng HT ở nhóm R6 hạng II không hẹp hơn nhóm bình thường ở từng giai đoạn bộ răng hỗn hợp và bộ răng vĩnh viễn trong phân tích riêng lẻ từng yếu tố và cũng là yếu tố không được chọn vào phân tích hồi quy logistic (p > 0,2).
Biểu đồ 4.3 so sánh diễn tiến chiều rộng cung răng vùng R6 HT từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn ở nhóm có tương quan R6 hạng I và hạng II ở bộ răng vĩnh viễn cho thấy ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp, kích thước chiều rộng vùng R6 HT ở nhóm hạng II gần như tương đồng với nhóm hạng I (đều có giá trị 52,9 mm; p = 0,81). Tuy nhiên, trong quá trình tăng trưởng từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn, nhóm có tương quan R6 hạng II tăng trưởng chiều rộng cung răng ít hơn so với nhóm có R6 hạng I (0,9 mm so với 1,5 mm; p = 0,08). Chính vì thế, ở giai đoạn bộ răng vĩnh viễn, nhóm có tương quan R6 hạng II có chiều rộng cung răng vùng R6 nhỏ hơn nhóm có hạng I (53,9 mm so với 54,4 mm; p = 0,34). Dù trong phân tích riêng lẻ từng yếu tố trên biểu đồ 4.3 cho thấy ở từng giai đoạn bộ răng hỗn hợp, bộ răng vĩnh viễn và trong quá trình tăng trưởng từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn đều không có sự khác biệt có ý nghĩa, tuy nhiên trong phân tích hồi quy đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình
thành tương qua R6 hạng II kết quả cho thấy yếu tố sự tăng trưởng chiều rộng vùng R6 HT từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn là yếu tố có ý nghĩa với OR = 0,3.
a: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từng giai đoạn T2, T3
b: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từ T2-T3
Biểu đồ 4.3. So sánh diễn tiến chiều rộng cung răng HT từ T2- T3 giữa nhóm hạng I và hạng II.
4.4.5.2. Chiều rộng cung răng HD
Ngược lại với cung răng HT, đối với cung răng HD, kết quả phân tích hồi quy logistic trên MH cho thấy chiều rộng cung răng vùng RE HD ở bộ răng hỗn hợp lớn hơn 1mm thì khả năng tương quan R6 ở bộ răng vĩnh viễn là hạng II tăng 1,9 lần. Thêm vào đó, trong quá trình phát triển từ bộ răng hỗn hợp bộ răng vĩnh viễn, nếu chiều rộng cung răng vùng R6 HD tăng 1mm thì khả năng tương quan R6 ở bộ răng vĩnh viễn là hạng II tăng 1,78 lần. Như vậy có nghĩa là cung răng HD rộng hơn ở bộ răng hỗn hợp và gia tăng kích thước nhiều hơn trong quá trình tăng trưởng từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn là một yếu tố “nguy cơ” làm tăng khả năng hình thành tương quan R6 hạng II.
Biểu đồ 4.4 cho thấy ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp, chiều rộng cung răng vùng R6 HD ở nhóm có tương quan R6 hạng II lớn hơn nhóm có tương quan R6 hạng I (46,2 mm so với 45,8 mm, p=0,38). Tuy nhiên, trong quá trình tăng trưởng từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn, chiều rộng cung răng HD ở nhóm có tương quan R6 hạng II tăng trưởng nhiều hơn so với nhóm có R6 hạng I (0,6 mm so với 0,1 mm; p=0,12). Chính vì
52.9
54.4
52.9
53.9
52 53 54 55
T2 T3
mm
Giai đoạn Hạng I Hạng II
(p=0,81a)
(p=0,34a)
thế, ở giai đoạn bộ răng vĩnh viễn nhóm có tương quan hạng II vẫn duy trì chiều rộng cung răng lớn hơn nhóm có R6 hạng I (46,8 mm so với 45,9 mm; p=0,053).
a: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từng giai đoạn T2, T3
b: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từ T2-T3
Biểu đồ 4.4. So sánh diễn tiến chiều rộng cung răng HD từ T2- T3 ở nhóm hạng I và hạng II.
Như vậy, kết quả phân tích riêng lẻ từng yếu tố cho thấy trong từng giai đoạn bộ răng hỗn hợp, bộ răng vĩnh viễn và trong quá trình tăng trưởng từ bộ răng hỗn hợp đến bộ răng vĩnh viễn các giá trị trên đều không khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm hạng II và nhóm hạng I. Tuy nhiên, trong phân tích hồi quy logistic các yếu tố trên MH, kết quả cho thấy yếu tố chiều rộng cung răng vùng RE HD ở bộ răng hỗn hợp và yếu tố sự thay đổi chiều rộng cung răng vùng R6 HD từ bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn là hai yếu tố có ý nghĩa ảnh hưởng đến sự hình thành tương quan R6 hạng II.
Tóm lại, kích thước chiều rộng cung răng HT và HD ảnh hưởng đến tương quan R6 sau cùng theo xu hướng đối nghịch nhau với giá trị ở HT tăng trưởng nhiều là một yếu tố thuận lợi cho việc phát triển khớp cắn bình thường, ngược lại giá trị ở HD lớn và tăng trưởng nhiều là một yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển thành tương quan R6 hạng II.
4.4.5.3. Kết hợp giữa chiều rộng cung răng HT và HD
45.8 45.9
46.2
46.8
45 46 47
T2 T3
mm
Giai đoạn Hạng I Hạng II
(p=0,38a)
(p=0,12b)
(p=0,053a)
Nhiều tác giả cho rằng để đánh giá ảnh hưởng của chiều rộng cung răng lên tương quan khớp cắn sau cùng cần đánh giá cung răng HT và HD trong mối tương quan với nhau sẽ cho cái nhìn toàn diện hơn 82,84.
Như phần tổng quan đã đề cập, nhiều nghiên cứu cho thấy SKC hạng II thường hiện diện tình trạng chiều rộng cung răng HT nhỏ tương đối so với cung răng HD (bất hài hòa kích thước giữa chiều rộng cung răng HT và HD), tình trạng này có thể có 3 dạng 4,42,46,109:
1) Cung răng HT hẹp kết hợp với cung răng HD bình thường 2) Cung răng HT bình thường kết hợp với cung răng HD rộng 3) Cung răng HT hẹp kết hợp với cung răng HD rộng.
Như vậy, trong nghiên cứu này ở nhóm SKC hạng II có thể hiện diện sai biệt theo chiều rộng giữa cung răng HT và HD, tương quan giữa chiều rộng hai cung răng giao thoa giữa dạng thứ (2) và thứ (3) với cung răng HT không hẹp nhiều và cung răng HD rộng. Kết quả này tương đối khác với đa số nghiên cứu cho rằng ở nhóm SKC hạng II, thường có tình trạng bất hài hòa chiều rộng vùng răng sau giữa cung răng HT và cung răng HD chủ yếu thuộc dạng (1) với nguyên nhân do chiều rộng cung răng HT hẹp kết hợp với chiều rộng cung răng HD bình thường 58,59,82,99,110.
Theo Varrela J. và McNamara J.A.J, khi chiều rộng cung răng HT nhỏ tương đối so với chiều rộng cung răng HD như kết quả của nghiên cứu này, XHD sẽ có khuynh hướng lùi ra sau để ăn khớp với HT hẹp hơn và dẫn đến sai khớp cắn hạng II 83,109.
Từ phân tích về ảnh hưởng của chiều rộng cung răng hai hàm và sự tăng trưởng của kích thước này cũng như tương quan giữa chiều rộng HT và HD ảnh hưởng đến tương quan R6 sau cùng, thiết nghĩ cần chú ý một số vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, khi đánh giá kích thước cung răng, cần thiết phải đánh giá trong cả quá trình tăng trưởng thay vì chỉ chú trọng đánh giá ở từng thời điểm, vì trong từng thời điểm kích thước có thể bình thường nhưng trong quá trình tăng trưởng, sự tăng trưởng ở nhóm hạng II có thể khác biệt với nhóm bình thường. Như trong nghiên cứu này, yếu tố tăng trưởng chiều rộng ở cung răng HT có vai trò quan trọng hơn chiều rộng ở từng thời điểm đối với tương quan R6.
- Thứ hai, khi đánh giá chiều rộng cung răng, phải đánh giá trong mối tương quan giữa HT và HD để đánh giá sự bất hài hòa giữa kích thước cung răng HT và HD.
- Thứ ba, dù chưa có chẩn đoán xác định có hẹp XHT so với XHD nhưng chúng tôi nghĩ khả năng cao những trường hợp SKC hạng II trong nghiên cứu này có PTID thực sự với XHT hẹp theo chiều ngang so với XHD. Chính vì thế, cần phải chú trọng đánh giá chiều rộng cung răng bên cạnh chiều rộng xương hàm bằng những phương tiện thích hợp (bằng phim sọ thẳng) để có chẩn đoán chính xác, từ đó có kế hoạch can thiệp phù hợp dựa trên nguyên nhân.