Yếu tố sự thay đổi tỉ lệ chiều cao TMG và TMD phía trước từ T1- T2

Một phần của tài liệu La Trần Thị Bích Vân Cấp Trường.pdf (Trang 149 - 153)

4.5. CÁC YẾU TỐ TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SAI KHỚP CẮN HẠNG II Ở BỘ RĂNG VĨNH VIỄN

4.5.2. Yếu tố sự thay đổi tỉ lệ chiều cao TMG và TMD phía trước từ T1- T2

Theo như kết quả phân tích hồi quy logistic, tỉ lệ giữa chiều cao TMG và chiều cao TMD phía trước (N-ANS/ANS-Me) tăng 1% từ bộ răng sữa đến bộ răng hỗn hợp thì khả năng tương quan R6 ở bộ răng vĩnh viễn là hạng II sẽ tăng 1,29 lần. Điều này có nghĩa là chiều cao TMG tăng trưởng nhiều so với chiều cao TMD là một yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng hình thành tương quan R6 hạng II ở bộ răng vĩnh viễn.

Khi đánh giá chiều cao tầng mặt trong mối tương quan với các dạng SKC, đa số các nghiên cứu thường tập trung vào chiều cao TMD và hướng phát triển của XHD hay dạng mặt tổng thể thuộc dạng dài, ngắn hay bình thường 54,59,74,97,102. Nghiên cứu này ngoài phân tích tổng thể chiều cao toàn bộ tầng mặt còn đánh giá riêng lẻ từng tầng mặt và tương quan giữa các tầng mặt nên vì thế sẽ cho cái nhìn toàn diện hơn.

a: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từng giai đoạn T1, T2, T3

b: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từ T1-T2, T2-T3

Biểu đồ 4.5. So sánh chiều cao toàn bộ tầng mặt trước từ T1-T2-T3 ở nhóm hạng II và hạng I.

Trong phân tích riêng lẻ từng yếu tố thể hiện ở biểu đồ 4.5, kết quả cho thấy chiều cao toàn bộ tầng mặt phía trước (N-Me) không khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm có tương quan R6 hạng II so với nhóm có tương quan R6 hạng I bình thường. Điều này có nghĩa là nếu chỉ xem xét chiều cao toàn bộ tầng mặt sẽ không thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm. Kết quả này khác biệt với một số tác giả như Baccetti, McNamara J.A.J cho rằng dạng mặt dài là đặc trưng của sai khớp cắn hạng II. Trong nghiên cứu của McNamara J.A.J về các đặc điểm răng-xương hàm-sọ mặt trên PSN ở trẻ SKC hạng II, kết quả cho thấy có khoảng 50% trẻ SKC hạng II sẽ có dạng mặt dài với XHD phát triển hướng mở 59,63.

Tuy nhiên, khi phân tích riêng từng tầng mặt, kết quả nghiên cứu này đã phát hiện một số vấn đề mới về chiều cao tầng mặt phiá trước:

 Đối với chiều cao TMG trước, kết quả phân tích riêng lẻ từng yếu tố cho thấy trong quá trình tăng trưởng từ T1-T2, nhóm có sai khớp cắn hạng II có xu hướng tăng trưởng chiều cao TMG nhiều hơn nhóm bình thường (biểu đồ 4.6)

100.6

109.5

123.7

98.9

108.3

119.9

90 100 110 120 130

T1 T2 T3

mm

Giai đoạn Hạng I Hạng II

(p=0,26a)

(p=0,09a)

a: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từng giai đoạn T1, T2, T3

b: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từ T1-T2, T2-T3

Biểu đồ 4.6. So sánh chiều cao TMG trước từ T1-T2-T3 ở nhóm hạng II và hạng I.

 Ngược lại, đối với chiều cao TMD trước, trong kết quả phân tích riêng lẻ từng yếu tố, nhóm có tương quan R6 hạng II có xu hướng tăng trưởng chiều cao TMD ít hơn nhóm bình thường (Biểu đồ 4.7).

a: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từng giai đoạn T1, T2, T3

b: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từ T1-T2, T2-T3 45.6

49.4

56.4

45.3

51.6

56.9

40 45 50 55 60

T1 T2 T3

mm

Giai đoạn

Hạng I Hạng II

(p=0,6a)

(p=0,66a) (p=0,02a)

54.9

60

67.4

53.7

57.5

63

50 55 60 65 70

T1 T2 T3

mm

Giai đoạn

Hạng I Hạng II

(p=0,24a)

(p=0,007a)

(p=0,03a)

Như vậy, nhóm hạng II có chiều cao TMG tăng trưởng nhiều hơn và chiều cao TMD tăng trưởng ít hơn, ngược lại với nhóm hạng I có chiều cao TMD tăng trưởng nhiều hơn và chiều cao TMG tăng trưởng ít hơn từ giai đoạn bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp. Chính vì sự tăng trưởng chiều cao TMG và TMD ở nhóm có tương quan R6 hạng II theo xu hướng đối lập với nhóm bình thường, nên tỉ lệ chiều cao TMG và TMD phía trước từ T1-T2 khác biệt rất có ý nghĩa giữa hai nhóm trong phân tích riêng lẻ từng yếu tố (p = 0,005), và cũng là yếu tố có ý nghĩa trong phân tích hồi quy logistic các yếu tố trên PSN (biểu đồ 4.8). Do vậy, thiết nghĩ cần phải đánh giá các tầng mặt trong mối tương quan với nhau thì sự khác biệt nếu có sẽ rất mạnh.

a: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từng giai đoạn T1, T2, T3

b: mức ý nghĩa khi so sánh giữa hai nhóm ở từ T1-T2, T2-T3

Biểu đồ 4.8. So sánh tỉ lệ chiều cao giữa TMG và TMD trước từ T1-T2- T3 ở nhóm hạng II và hạng I.

Từ kết quả trên, có thể gợi ý một số vấn đề cần xem xét khi đánh giá chiều cao tầng mặt:

- Trong một tổng thể bình thường có thể tiềm ẩn những thành phần cấu thành bất thường. Cụ thể trong nghiên cứu này là chiều cao toàn bộ tầng mặt bình thường nhưng hai yếu tố cấu thành là TMG và TMD có xu hướng tăng trưởng bất thường.

83.3

82.6 83.9

84.6

90.2 90.7

75 80 85 90 95

T1 T2 T3

mm

Giai đoạn Hạng I Hạng II

(p=0,48a)

(p=0,005a) (p=0,001a)

(p=0,18b) 1,2 %

Chính vì thế, cần phải đánh giá riêng TMG, TMD bên cạnh toàn bộ tầng mặt và đánh giá trong mối tương quan với nhau.

- SKC hạng II không chỉ có sai biệt theo chiều trước sau về vị trí của R6 HT và HD mà còn sai biệt theo chiều đứng với XHT quá triển trong khi XHD kém phát triển.

Một phần của tài liệu La Trần Thị Bích Vân Cấp Trường.pdf (Trang 149 - 153)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(181 trang)