Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình thường trong cơ thể, song có rất nhiều yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh tác động làm cho tình trạng mất xương ở một số đối tượng trở lên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và họ có nguy cơ bị loãng xương cũng như gãy xương cao hơn. Những yếu tố đã được nhiều tác giả thừa nhận bao gồm:
4.1 Giới:
Phụ nữ có nguy cơ xuất hiện loãng xương tiên phát cao hơn nam giới gấp 6 – 8 lần do khối lượng xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương nhanh hơn sau mãn kinh. Sự mất xương ở phụ nữ xuất hiện sớm hơn nam giới từ 15 – 20 năm do hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng. Ở tuổi 70, có tới 50% phụ nữ sau mãn kinh có biểu hiện mất xương trong khi ở nam giới chỉ có 25% có biểu hiện mất xương ở độ tuổi 80 [58].
4.2 Tuổi
Nhiều tác giả cho rằng sự mất xương bắt đầu vào khoảng tuổi 30 – 35 ở vị trí bè xương và tuổi 40 ở vị trí vỏ xương. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng có một sự giảm rõ rệt mật độ xương theo tuổi. Ở người già có sự mất cân bằng giữa quá trình tạo xương và hủy xương, đồng thời có sự suy giảm hấp thu canxi ở ruột và sự tái hấp thu canxi ở ống thận và do vậy dễ có khả năng bị loãng xương. Nghiên cứu của Thomsen K, Er – Yuan Liao và cộng sự, Cheng S., Brahm H. cho thấy có mối liên quan giữa tuổi với tỷ lệ loãng xương [46] [48] [67]. Trần Thị Tô Châu, Vũ Thị Thu
HUPH
Hiền, Phạm Thu Hương, Nguyễn Thị Hoài Châu, Vũ Thị Thanh Thủy và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ loãng xương tăng dần theo tuổi đặc biệt là tăng nhanh sau tuổi 50 [5] [6]
[19] [33] [53]. Thời gian sống càng lâu, khối lượng xương mất càng lớn đồng thời sự hấp thu calci cũng giảm và do đó dễ có khả năng loãng xương.
4.3 Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Nhiều nghiên cứu cho rằng, cùng với cân nặng thì chỉ số khối của cơ thể cũng có ảnh hưởng đến mật độ xương. M. Boyanov và P. Popivanov trong nghiên cứu của mình đã nhận thấy BMI ≥ 25 dường như là yếu tố bảo vệ đối với mật độ xương trong khi ở những người gầy hơn với BMI ≤ 22 thì lại tăng nguy cơ loãng xương [45]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu cũng cho thấy có mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng loãng xương [5].
4.4 Yếu tố chiều cao
Nhiều nghiên cứu cho rằng, chiều cao có ảnh hưởng đến mật độ xương. Những người có tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Vũ Đình Chính cho thấy số người có triệu chứng gợi ý loãng xương chiếm 40% ở nhóm có chiều cao < 140 cm [7]. Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy cũng thấy rằng ngƣỡng chiều cao từ 145 cm trở xuống là yếu tố nguy cơ gây giảm mật độ xương [33].
4.5 Yếu tố cân nặng
Ở những phụ nữ nhẹ cân, sự mất xương xảy ra nhanh hơn và tần suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do loãng xương cao hơn. Ngược lại, cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển hóa androgen của tuyến thƣợng thận thành estron ở mô mỡ.
Yếu tố cân nặng có ảnh hưởng tốt trên khối xương, những người béo có mật độ xương cao hơn so với những người gầy. Năm 1986, Viện quốc gia về sức khỏe của Đan Mạch đã thông báo rằng trọng lƣợng cơ thể thấp là một yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển của loãng xương [60].Năm 2003, theo báo cáo của nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp WHO/
FAO cũng cho thấy rằng cân nặng cơ thể thấp làm tăng nguy cơ gãy xương do loãng xương cho nam và nữ trên 50 tuổi [43]. Nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài
HUPH
nước cũng cho thấy rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cân nặng và tình trạng loãng xương như các nghiên cứu của Vũ Đình Chính [7]. Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy chỉ ra cân nặng dưới 42kg là yếu tố nguy cơ gãy lún đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh [33].
Như vậy, cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương.
4.6 Yếu tố Hormone sinh dục:
Ở nam giới, hormone Testosteron đã đƣợc các nhà lâm sàng chứng minh rằng nó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình tổng hợp và duy trì khối lượng xương cả về chiều dài và độ dày, testosteron giảm dần theo tuổi và ảnh hưởng đến mật độ xương [38].
Ở nữ giới, hormone Estrogen có vai trò quan trọng trong việc duy trì khối lƣợng xương. Người ta nhận thấy, khối lượng xương thấp và tốc độ mất xương nhanh ở những phụ nữ bị cắt bỏ buồng trứng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp hormone thay thế sẽ làm giảm sự mất xương. Liệu pháp hormone thay thế được áp dụng trong vòng 5 – 10 năm sau mãn kinh sẽ làm giảm tới 50% nguy cơ gãy xương do loãng xương [38].
4.7 Chủng tộc
Tỷ lệ loãng xương thay đổi đáng kể từ nước này đến nước khác. Ở Mỹ, phụ nữ da trắng và phụ nữ nguồn gốc châu Á có tỷ lệ loãng xương cao hơn những phụ nữ da đên và trên thực tế những phụ nữ da đen này có khối lượng xương cao hơn [55].
4.8 Yếu tố dinh dưỡng
Sự cung cấp Canxi và vitamin D đặc biệt quan trọng trong sự phát triển cơ thể. Ở tuổi phát triển, chế độ ăn thiếu canxi ảnh hưởng đến sự đạt đỉnh cao của khối xương và sự mất xương sau này. Canxi có thể ngăn ngừa sự mất xương nhanh sau khi khối xương của cơ thể đã đạt tới đỉnh cao. Vitamin D cần thiết cho sự hấp thu Canxi. Về già, quá trình già hóa và yếu tố dinh dƣỡng có liên quan với nhau. Một mặt, dinh dƣỡng đƣợc coi là một trong các yếu tố quyết định quá trình già hóa. Mặt khác, các thay đổi trong cơ thể liên quan đến tuổi ảnh hưởng đến nhu cầu dinh dưỡng [3].
Theo bảng nhu cầu canxi khuyến nghị cho người Việt Nam, những người lao động nhẹ, tuổi trưởng thành (19 – 49) có nhu cầu canxi là 700 mg/ngày, và khi trên 50 tuổi nhu
HUPH
cầu này tăng lên là 1.000 mg/ngày; phụ nữ mang thai và cho con bú cũng đòi hỏi một lượng canxi là 1.000 mg/ngày [3]. Vì vậy, ở người cao tuổi, do năng lượng khẩu phần giảm nên dễ bị thiếu các vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin D và canxi. Nếu chế độ ăn không đủ canxi, nồng độ canxi huyết sẽ tụt, buộc cơ thể phải điều động canxi từ xương, điều này lâu dần sẽ dẫn đến loãng xương. Theo khuyến cáo của WHO, nhu cầu canxi của người trên 50 tuổi tối thiểu là 1.200 mg/ngày, vitamin D là 400 – 800 IV/ngày.
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền cho thấy phụ nữ có lƣợng canxi trong khẩu phần thấp hơn 500 mg/ngày có nguy cơ bị loãng xương cao hơn những phụ nữ có canxi trong khẩu phần ăn ≥ 500 mg/ngày [15] [16]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung cũng cho thấy những phụ nữ có thói quen ăn thực phẩm giàu canxi giảm được nguy cơ loãng xương so với nhóm không ăn. Những người sử dụng đậu phụ, rau muống, cam quả 1 tháng/lần có nguy cơ bị loãng xương cao gấp 4 – 20 lần so với những người sử dụng hàng ngày [12].
4.9 Uống rượu, cà phê và thuốc lá
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh uống nhiều rƣợu, bia, cà phê, thuốc lá là những yếu tố nguy cơ của loãng xương.
Nghiên cứu của New S.A và cộng sự cho thấy những phụ nữ có thói quen hút thuốc lá thì mật độ xương thấp hơn nhóm không hút (p<0,02) [61].
Tác giả Forsmo S. và cộng sự năm 2001 cũng đã chứng minh mối liên quan giữa thường xuyên hút thuốc, uống cà phê và mật độ xương thấp ở phụ nữ Nauy (p<0,05) [52].
Tác giả Mai Công Danh và cộng sự cũng chỉ ra phụ nữ uống cà phê ít nhất một lần mỗi ngày làm tăng nguy cơ loãng xương (OR = 1,7; 95%CI: 1,1 - 2,6) [11].
4.10 Yếu tố chè (trà)
Từ hàng trăm năm nay, người châu Âu và châu Mỹ đã hài lòng với những chén chè buổi sáng tinh sương hay trong các bữa tiệc gia đình ấm cúng. Còn ở châu Á và các quốc gia Trung Đông, chè đã trở thành thứ nước uống truyền thống mà người Việt Nam đặc biệt là nam giới thường hay uống hàng ngày [59].
Đã có những công trình nghiên cứu thấy rằng, nước chè có chứa một lượng lớn các chất chống oxy hóa nhƣ catchins trong chè xanh và thearuligins trong chè đen, giúp con người chống lại bệnh tật. Kết quả nghiên cứu của Rianne Leenen và cộng sự cho thấy,
HUPH
sau khi uống chè đều đặn mỗi ngày, có sữa hoặc không có sữa thì phạm vi hoạt động của các chất chống oxy hóa trong huyết thanh của cơ thể họ đều tăng. Trên thế giới đã có những nghiên cứu thấy rằng uống chè làm tăng mật độ xương ở cả nam và nữ [59].
4.11 Chế độ luyện tập
Hoạt động thể lực và tập luyện rất quan trọng đối với việc xây dựng và duy trì khối xương. Dalsky G.P và cộng sự đã ghi nhận rằng một chương trình luyện tập 40 tuần đã làm tăng đáng kể mật độ xương ở cột sống thắt lưng của những người luyện tập so với những người không luyện tập [50]. Trong một nghiên cứu dài 4 năm, Smith E.L và cộng sự đã so sánh 2 nhóm đối tƣợng, một nhóm có luyện tập aerobic có chịu tải 45 phút/lần, 3 lần/tuần và một nhóm không luyện tập [67]. Kết quả là, tỷ lệ mất xương giảm ở nhóm luyện tập so với nhóm không luyện tập. Nghiên cứu của Silvano Adami và cộng sự cũng cho thấy những người đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày trên 30 phút sẽ làm tăng mật độ xương so với nhóm không tập [42]. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền, Vũ Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Kim Dung cho thấy rằng những phụ nữ tập thể dục đều đặn ít nhất 3 lần/tuần sẽ giảm được nguy cơ loãng xương so với nhóm không tập thể dục [12]
[33] [54].
Như vậy sự vận động của cơ kích thích sự tạo xương và tăng khối lượng xương, giảm tỷ lệ mất xương. Ngược lại, sự giảm vận động dẫn tới mất xương nhanh.
4.12 Yếu tố di truyền và gia đình
Người ta thấy có những cá thể trong gia đình có bà, mẹ hoặc một người nào khác bị loãng xương thì con cháu họ cũng có nguy cơ bị loãng xương. Nghiên cứu của Diaz và cộng sự cho thấy những người có mẹ bị gãy xương thì có nguy cơ bị lún đốt sống do loãng xương cao hơn những người không có mẹ bị loãng xương [51].
4.13 Điều trị Glucocorticoid kéo dài
Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy điều trị Prednisone 7,5 mg/
ngày có thể làm giảm mật độ xương và sẽ hồi phục sau khi ngừng thuốc, nguy cơ này phụ thuộc vào liều lƣợng và thời gian dùng thuốc. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Kanis J.A và cộng sự cho thấy, Glucocorticoid làm tăng nguy cơ gãy xương bất kỳ lên 1,91 lần,
HUPH
nguy cơ gãy cổ xương đùi lên 2,01 lần, gãy xẹp đốt sống lên 2,86 lần và gãy xương cẳng tay lên 1,33 lần [57].
4.14 Các yếu tố khác
Sử dụng một số thuốc gây tăng mất xương như: thuốc chống động kinh…, bị các bệnh nội tiết, thận, bất động lâu ngày đều có ảnh hưởng đến loãng xương.