1.4.1. Thuận lợi trong triển khai các hoạt động CTXH trong bệnh viện
Văn bản pháp quy, hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, cụ thể, rõ ràng Bên cạnh những văn bản pháp lý đã được xây dựng và ban hành bởi Bộ Y tế là nền tảng cho sự hình thành và phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế như đề án 32 và thông tư 43, các BV khi triển khai các hoạt động CTXH tại BV đã xây dựng các văn bản pháp lý định hướng phát triển và các quy định về hoạt động CTXH phù hợp với từng BV.
Bệnh viện ĐHYD TP.HCM: Khi Bộ Y tế ban hành Thông tư 43, Phòng CTXH đã được thành lập trực thuộc BV với chức năng nhiệm vụ theo Thông tư, tiền thân hoạt động của Phòng Kế hoạch phát triển và Bộ phận chăm sóc khách hàng. Đến năm 2016, giám đốc BV ban hành quyết định số 980/QĐ-BVĐHYD ngày 17 tháng 05 năm 2016 thành lập mạng lưới CTXH, có trách nhiệm nắm bắt kịp thời thông tin về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh của NB, hỗ trợ tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH, tâm lý, pháp lý,… hướng dẫn, giới thiệu các dịch vụ KCB, cung cấp thông tin chính sách, quyền lợi cho NB/NNNB (27).
BVĐK tỉnh Khánh Hòa: Theo tác giả Đoàn Thị Thùy Loan thực hiện nghiên cứu “Thực trạng CTXH tại BVĐK tỉnh Khánh Hòa năm 2015” chỉ ra rằng một số yếu tố thuận lợi gồm: hành lang văn bản pháp quy về CTXH ngày càng hoàn thiện;
sự quan tâm, ủng hộ của Ban lãnh đạo BV, sự phối hợp đồng thuận của các Khoa/phòng, sự ủng hộ của các nhà tài trợ (29). Phòng CTXH được thành lập theo công văn số 5830/BYT-KCB ngày 30/12/2013 theo mô hình Bộ Y tế triển khai thí điểm tại 5 BV tuyến Trung Ương và Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa. Theo đó, phòng CTXH đã được quy định chức năng và nhiệm vụ cụ thể gồm năm nhóm hoạt động chính: Giải quyết các vấn đề tâm lý, xã hội cho NB/NNNB về dịch vụ KCB của BV, vận động tài trợ, triển khai hỗ trợ tài chính cho NB khó khăn, tổ chức sự kiện, truyền thông về các chủ đề liên quan, đào tạo về lĩnh vực CTXH cho nhân viên BV(29). Năm 2014, BVĐK tỉnh Khánh Hòa ban hành một số văn bản hỗ trợ cho
HUPH
các hoạt động CTXH tại BV như thông báo số 222, quy định về một số vấn đề trong công tác từ thiện tại BV, thông báo số 178 quy định về một số vấn đề trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại BV (33), (34).
Có thể thấy chính nhờ sự ngày càng hoàn thiện một cách đầy đủ và đồng bộ các băn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, quy định về CTXH đã giúp phát triển các hoạt động này ở các BV. Bản thân người cán bộ chuyên trách nhờ đó có đầy đủ thẩm quyền để thực hiện công việc chuyên môn, các phòng ban trong BV cũng chủ động lựa chọn cán bộ tham gia phối hợp với các phòng CTXH một cách chính thức chứ không còn tính chất tạm thời. Bên cạnh đó, các đơn vị tài trợ, nhà hảo tâm cũng có được một đầu mối hợp tác bài bản chứ không thiên về cảm tính, hoạt động manh mún như trước đây.
Nguồn nhân lực
Bệnh viện ĐHYD TPHCM: Phòng CTXH được thành lập riêng, với số lượng nhân viên đông hơn các BV khác, phân công từng mảng công việc, trình độ chuyên môn được đào tạo phù hợp nên hoạt động khá bài bản, đa dạng về hình thức, thực hiện được nhiều nội dung, số lượng lên tới 55 cán bộ viên chức. Bệnh viện có 5 tổ công tác chuyên trách với 11 nhân viên phụ trách (Tổ vận động và tiếp nhận tài trợ, tổ hỗ trợ và chăm sóc NB, tổ huấn luyện kiến thức về CTXH, tổ truyền thông, tổ vận chuyển), số còn lại phụ trách các mảng như tiếp nhận, vận chuyển. Bên cạnh đó Khoa Khám bệnh của BV có 22 nhân viên phụ trách việc chăm sóc khách hàng, hỗ trợ, đón tiếp NB. Ngoài ra, BV còn phát triển mạng lưới cộng tác viên gồm 39 thành viên tập hợp từ các khoa phòng khác (27).
1.4.2. Khó khăn trong triển khai các hoạt động CTXH trong bệnh viện
Hình thức triển khai, phối hợp, giám sát các hoạt động hỗ trợ còn hạn chế Nhận thức về các dịch vụ CTXH trong BV còn hạn chế. Người dân chưa biết nhiều đến CTXH trong BV; một số cán bộ, nhân viên CTXH, chưa nhận dạng được làm việc gì và ở đâu. Vai trò, nhiệm vụ CTXH là gì, sự khác biệt giữa CTXH với các ngành nghề khác (24).
HUPH
Các hình thức trợ giúp, các dịch vụ CTXH chưa đa dạng về số lượng và hiệu quả hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế. Các hoạt động hiện tại chủ yếu hỗ trợ cung cấp dịch vụ công cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, nhằm giúp họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh. Thêm nữa, cách thức can thiệp giải quyết vấn đề chủ yếu dựa trên việc xử lý sự việc khi nó đã xảy ra chứ chưa có các hoạt động chú trọng đến việc phòng ngừa, do vậy kết quả chưa thực sự hiệu quả.
Thiếu nhân lực có kinh nghiệm thực tế, được đào tạo chuyên sâu
Bệnh viện ĐHYD TPHCM trong quá trình triển khai các hoạt động CTXH vẫn còn gặp một số khó khăn: số lượng cũng như chất lượng cán bộ chuyên trách CTXH trong BV. Hiện nay, công tác đào tạo nhân lực cho hoạt động CTXH chưa phát triển, số lượng cán bộ viên chức được đưa đi đào tạo về CTXH được cấp chứng chỉ khá ít.
Cán bộ viên chức của phòng tuy số lượng nhiều hơn so với các BV khác, nhưng trong tình hình thực tế tại BV, nhân lực của Phòng CTXH vẫn chưa đáp ứng đủ khối lượng công việc theo Thông tư 43. Lực lượng tình nguyện viên còn ít, chưa có kinh nghiệm, nên còn hạn chế trong việc hỗ trợ NB (27).
Về nguồn nhân lực cho hoạt động CTXH trong BV hiện nay còn rất thiếu. Trên toàn quốc có khoảng 40 trường đại học đào tạo nhân viên CTXH, nhưng chưa có chương trình đào tạo nhân viên CTXH trong ngành y tế do vậy cán bộ phòng CTXH chủ yếu là kiêm nhiệm, chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng CTXH nên thường thiếu tính chuyên nghiệp hoạt động còn chưa hiệu quả, chưa thực sự đi sâu vào công tác chuyên môn của lĩnh vực công tác xã hội (20), (35). Kết quả nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Khánh Hòa đưa ra nhận xét do đây là một ngành mới, chưa có mô hình chuẩn cho công tác đào tạo chuyên ngành về CTXH nên lực lượng làm CTXH trong BV còn thiếu về số lượng và chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn. Nhân lực phòng CTXH tại bệnh viện chỉ có 3 nhân viên và chưa có nhiều hiểu biết chuyên môn về CTXH cũng như kinh nghiệm y tế do đó không bao phủ hết được các Khoa/phòng (29).
Nguồn kinh phí tài trợ eo hẹp, chưa ổn định và khó khăn về điều kiện làm việc, cơ sở vật chất
HUPH
Nguồn kinh phí hoạt động hiện nay của các BV chủ yếu dựa vào nguồn kinh phí vận động từ các nhà hảo tâm. Chính vì vậy, việc xác định đối tượng cần hỗ trợ và điều phối để đảm bảo công bằng là một trong những khó khăn phòng CTXH gặp phải trong quá trình triển khai các hoạt động.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Minh Hiền năm 2014 tại BV Chợ Rẫy, điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn như phòng làm việc chật chội, thiếu trang thiết bị. Thu nhập của cán bộ phòng CTXH của BV còn hạn chế, chưa có chế độ động viên khuyến khích làm việc do đây là lĩnh vực mới, do đặc thù đơn vị không tham gia trực tiếp các hoạt động dịch vụ của BV nên không có phụ cấp như những khoa khác (30). Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Thùy Loan tại BV Đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2015 cũng cho thấy những yếu tố khó khăn tương tự (29).