BIỆN PHÁP THỨ BẨY: Giúp học sinh khai thác và sự dụng biện pháp nghệ thuật hợp lý trong văn miêu tả

Một phần của tài liệu Skkn học tốt văn miêu tả lớp 4,5 (Trang 25 - 37)

I. CÁC BIỆN PHÁP DẠY – HỌC TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ Ở LỚP 4 -5

7. BIỆN PHÁP THỨ BẨY: Giúp học sinh khai thác và sự dụng biện pháp nghệ thuật hợp lý trong văn miêu tả

Trong quá trình làm bài Tập làm văn miêu tả, việc lựa chọn chi tiết để miêu tả là hết sức quan trọng. Nhưng khi chọn được chi tiết rồi mà để có bài văn hay, sinh động thì việc lựa chọn từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật để minh họa chi tiết đó thật nổi bật, thật có hồn và giàu hình ảnh là một việc làm không thể thiếu.

Chính vì vậy chúng ta cần phải coi việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong quá trình làm bài tập làm văn miêu tả là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết. Đề cập đến vấn đề này nhà văn Phạm Hổ viết: “ Tiêu chuẩn nghệ thuật đời nào cũng giống nhau - nói ít mà gợi tả được nhiều là tiêu chuẩn cao nhất".

Trong văn miêu tả cũng vậy thôi. Tôi lưu ý học sinh đừng tả dài mà tìm hiểu và quan sát thật kĩ, nắm bắt cho được cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con người, con vật, hoa trái…mà tả, rồi bằng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trước mắt người đọc, gợi cho người ta cùng cảm nhận, cùng suy nghĩ với mình. Nguyễn Du tả mụ Tú Bà trong Truyện Kiều chỉ có 14 tiếng nhưng sinh động và thật làm sao: " Thoắt trông nhờn nhợt màu da, ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao".Yếu tố tạo nên chất lượng là các chi tiết “có góc cạnh, sinh động” thể hiện được “Cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con người, con vật, hoa trái”…

- Chất lượng của bài miêu tả là “nói ít gợi nhiều”, chi tiết đưa ra không cần nhiều nhưng phải dẫn đến cảm giác mãnh liệt nhất, dẫn đến những hình ảnh sinh động hiện lên trước mắt người đọc, khiến họ nhìn rất rõ và rất có ấn tượng. Đương nhiên cảm xúc mạnh đó, hình ảnh sắc nét đó phải thể hiện được lý tưởng thẫm mĩ cao đẹp của thời đại, phải hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ, nâng cao tâm hồn và nhân cách con người. Các chi tiết này có được do chất lượng của sự quan sát và cách chọn lọc chúng. Khi quan sát phải nhạy bén, phải công phu. Đó là sự phát hiện bằng các giác quan (mắt, tai, lưỡi, mũi, da…), bằng tâm hồn và cảm xúc của người viết, bằng tình yêu thiên nhiên, loài vật. Người quan sát phải tìm ra những gì “ chân thật nhưng lại ít được chú ý”, những gì giúp người đọc “nhìn rất rõ và rất có ấn tượng” các chi tiết có tính chất tạo hình.

Như vậy quá trình chọn chi tiết để tả thì người viết còn phải biết cân nhắc, sử dụng từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật có sức gợi tả mạnh liệt để thu hút người đọc , để làm nổi bật được chi tiết mà mình miêu tả.

Để giúp học sinh thực hiện tốt yêu cầu này tôi thường sử dụng hệ thống bài tập sau (các dạng bài tập này tôi thường cho học sinh làm vào các tiết Tiếng Việt ở buổi 2 ). Các dạng bài tập này tôi đưa theo mức độ tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, sau đó yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá, có dùng từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh ....

7.1. Các bài tập sử dụng từ láy, tính từ, biện pháp so sánh, nhân hóa để điền vào chỗ trống:

Đó là việc yêu cầu học sinh tìm những từ láy, tính từ tuyệt đối, các biện pháp so sánh, nhân hóa để điền vào những chỗ trống trong đoạn văn. Thông qua cách sử dụng các từ ngữ này học sinh biết diễn đạt các sự vật hiện tượng được miêu tả bằng nhiều cách khác nhau. Các từ cần điền có thể cho sẵn hoặc yêu cầu các em tự tìm ra.

Ví dụ 1 : Tìm những từ láy, tính từ gợi tả thích hợp để điền vào chỗ trống trong các câu văn sau :

a, Trên bầu trời xanh..., mấy cánh diều chao lượn, tiếng sáo diều...

b, Những sóng lúa….. nô giỡn cùng gió.

c, Những con sóng hiền từ gối lưng lên nhau,…..mạn thuyền

Ví dụ 2: Điền những vế câu có những hình ảnh so sánh thích hợp vào chỗ trống để mỗi dòng sau trở thành những câu văn sinh động:

a. Mùa xuân lá bàng mới nhúm như …….

b. Những chiếc lá bàng mùa đông đỏ như……

c. Cành bàng trụi lá trông giống ………..

d. Tán bàng xòa ra giống như ………..

e. Mắt đen như..., miệng cười tươi như..., tiếng nói sang sảnh như...

Ví dụ 3: Tìm các từ chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái ...của con người điền vào chỗ trống để câu văn được diễn tả bằng cách nhân hóa :

a. Mấy con chim đang hót líu lo trên cành cây.

b. Vườn trường xanh um màu lá nhãn.

c. Cổng trường sơn màu xanh.

7.2. Các bài tập sử dụng từ láy, tính từ, biện pháp so sánh, nhân hóa để thay thế các từ ngữ khác.

Khác với dạng bài tập 1, ở đây học sinh cần phải nắm được nghĩa các từ đã

cho từ đó mới có thể tìm được từ thay thế để được các câu văn có hình ảnh và sinh động hơn. Sau đây là một số ví dụ minh họa.

Ví dụ 1: Cho các từ ngữ sau: Nhấp nhô, xanh biêng biếc, tấp nập, tung tăng.Em hãy lựa chon các từ đó thay thế cho các từ in nghiêng trong các câu văn sau để được các câu văn cụ thể, sinh động hơn ( dành cho HS trung bình, yếu)

a. Mùa thu, con sông quê tôi nước rất xanh.

b. Những cánh cò trắng muốt bay trên cánh đồng lúa chín.

c. Xa xa, những ngọn núi cao thấp, vài ngôi nhà thấp thoáng.

Ví dụ 2: Em hãy tìm những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người thay thế

cho các từ in nghiêng trong các câu văn sau (dành cho HS khá, giỏi) a. Tôi nghe thấy tiếng những chú dế lao xao trên bãi cỏ.

b. Con chim trống vỗ cánh bay đi tìm mồi cho con giúp chim mái.

c. Ánh nắng chiếu lên mái nhà và mảnh sân xinh xắn.

Ví dụ 3: Thay những từ gạch chân dưới đây bằng một từ láy để các câu sau trở nên sinh động:

a. Những giọt sương đêm nằm trên cành lá.

b. Đêm trung thu, trăng sáng lắm. Dưới trăng, dòng sông trông như dát bạc.

c. Gió thổi mạnh. Lá cây rơi nhiều.

d. Trên nền trời, những cánh cò đang bay.

Qua các ví dụ trên ngoài việc hiểu nghĩa của các từ in nghiêng học sinh còn phải nắm được cách sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa để víết câu.

7.3. Các bài tập sử dụng từ láy, tính từ, các biện pháp so sánh, nhân hóa để viết câu .

Ví dụ 1: Em hãy đặt câu có các từ sau: xanh tươi, xanh ngắt, xanh um, xanh non Ví dụ 2: Em hãy viết ba câu văn có hình ảnh nhân hoá

a. Giọt nắng sớm.

b. Cánh cổng trường.

c. Lá cờ giữa sân trường.

d. Vườn trương xanh um cây lá.

Ví dụ 3: Em hãy viết lại câu sau để có hình ảnh so sánh:

a. Bác nông dân ấy khoẻ, nước da rám nắng.

b. Đường làng đẹp, những cây phượng đã nở hoa đỏ.

c. Dòng sông chảy quanh co qua làng.

Bên cạnh các dạng bài tập trên để giúp học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của thơ văn từ đó biết vận dụng vào bài văn của mình tôi đã hướng dẫn các em một số dạng bài tập có tính chất phát hiện cái hay cái đẹp của văn thơ. Các

dạng bài tập này chủ yếu dành cho những em học sinh có chút năng khiếu văn, yêu thích học văn.

a. Các dạng bài tập yêu cầu học sinh phát hiện những từ dùng đắt và đánh giá giá trị của chúng.

Ví dụ 1: Đọc đoạn thơ sau:

Tiếng chim lay động lá cành

Tiếng chim đánh thức chồi non dậy cùng Tiếng chim vỗ cánh bầy ong

Tiếng chim tha nắng rải đồng vàng thơm Gọi bông lúa chín về thôn

Tiếng chim nhuộm óng cây rơm trước nhà Tiếng chim cùng bé tưới hoa

Mát trong từng giọt nước hoà tiếng chim.

( Định Hải)

Trong số các từ ngữ gợi tả tiếng chim buổi sáng nói trên, em thích nhất từ ngữ nào? Vì sao? (HS trung bình chỉ cần trả lời em thích từ ngữ nào)

Ví dụ 2: Hãy chỉ ra những từ mà em cho là hay nhất trong câu cuối của khổ thơ sau và giải thích tại sao:

...Tôi muốn ngày nào lớp cùng đông vui Dẫu tháng ba có đi qua lớp học

Mỗi khoảng trống trên bàn - có em vắng mặt Là bao nhiêu khoảng trống ở trong tôi....”

( Trích Tháng ba đến lớp - Thanh Ứng)

b. Các bài tập yêu cầu học sinh phát hiện biện pháp tu từ , nghệ thuật miêu tả của tác giả và nêu cảm nhận của mình.

Ví dụ 1:

Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng.

Gió nâng tiếng hát chói chang,

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời.

( Tiếng hát mùa gặt - Nguyễn Duy)

Trong đoạn thơ trên, cánh đồng lúa chín được tả có màu sắc, âm thanh, hình ảnh gì đẹp? Tác giả tả lưỡi hái đẹp và sắc bằng những từ nào?

Ví dụ 2:

Hiên tây xanh mát bóng râm Đơn sơ cây ổi cứ ngầm đơm hoa Quả tơ nấp dưới lá già

Để sang thu bỗng oà ra ngọt ngào

( Vườn nhà - Tố Hữu)

Nêu nhận xét của em về nghệ thuật miêu tả của tác giả trong đoạn thơ trên?

Với cách miêu tả ấy, nhà thơ đã giúp em cảm nhận được hình ảnh cây ổi đẹp như thế nào?

Qua các dạng bài tập trên, yêu cầu học sinh ngoài việc nắm được cách sử dụng biện pháp nhân hóa trong viết câu còn phải biết cách liên kết các câu lại để trở thành một đoạn văn hoàn chỉnh hay và hấp dẫn, có thể gây được sự chú ý cho người đọc, người nghe. Hơn thế nữa, các em còn được học tập cách quan sát, cách dùng từ đắt của tác giả từ đó học tập cách viết, cách miêu tả của nhà văn.

8. BIỆN PHÁP THỨ TÁM: Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn, liên kết các đoạn văn.

Sau các dạng bài tập dùng từ đặt câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá, so sánh....thì bài tập yêu cầu viết đoạn văn là dạng bài tập quan trọng nhất, nó tổng hợp các dạng bài tập trên. Tôi lưu ý học sinh, viết đoạn văn nội dung phải có những điểm mới lạ, sinh động hoặc nội dung quen thuộc nhưng diễn tả một cách hấp dẫn, không giống mọi người do cách nghĩ, cách cảm nhận chân thật, mang đậm dấu ấn cá nhân. Khi viết đoạn văn các câu văn phải được sắp xếp hợp lí theo

mạch suy nghĩ riêng của cá nhân, trong đoạn văn có những từ ngữ "đắt", có những câu văn hấp dẫn.

Khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn tôi hướng dẫn từng bước một. Trước hết viết câu chủ đề của đoạn văn hay chính là câu mở đoạn. Tôi lưu ý học sinh câu chủ đề là câu chủ hướng của trong cả đoạn, đây là trung tâm ngữ nghĩa của đoạn.

Các câu khác trong đoạn đều hướng về nó, góp phần làm rõ nghĩa một khía cạnh nào đó cho câu chủ đề( câu mở đoạn). Câu chủ đề phần lớn được viết cô đọng, ngắn gọn giúp người đọc dễ dàng nắm bắt nội dung của đoạn. Đầu tiên khi cho các em tìm hiểu về câu chủ đề, hiểu rõ về câu chủ đề, tôi đưa một số đoạn văn và yêu cầu các em tìm câu chủ đề( câu mở đoạn) của đoạn văn đó. Sau đó tôi đưa một số đoạn văn không có câu mở đoạn, yêu cầu học sinh tìm câu mở đoạn thích hợp với đoạn văn đã cho và cao hơn nữa tìm câu mở đoạn vừa thích hợp vừa hay có cảm xúc.

Ví dụ: Em hãy viết câu mở đoạn cho đoạn văn sau: " ...Cây cối đâm châm chồi nảy lộc. Bạn đã từng thốt lên kinh ngạc khi bắt gặp sự non xanh của những mầm non mới nhú chưa? Nếu bạn là người yêu mùa xuân, bạn sẽ thấy mùa xuân đáng yêu, xinh đẹp. Xuân mang đến niềm vui phơi phới. Những làn gió xuân nhè nhẹ như ru hồn ta vào cõi mộng. Đẹp quá! Mùa xuân ơi!".

Sau khi hướng dẫn viết câu mở đoạn, tôi cho các em viết phần thân đoạn.

Phần thân đoạn gồm các câu văn phát triển ý cho câu mở đoạn đã viết. Câu mở đoạn giới thiệu gì thì phần thân đoạn viết phát triển ý đó. Phần thân đoạn là quan trọng nhất, để viết được các em phải vận dụng các kiến thức đã học. Các em vận dụng kiến thức dùng từ đặt câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá để làm bài. Các câu trong đoạn văn phải đảm bảo sự thống nhất với nhau, tránh lan man không trọng tâm, cùng theo một chủ hướng nhất định. Các câu trong đoạn văn chỉ nên xoay quanh, tập trung nói tới một sự vật, một sự việc, hiện tượng được nêu ở câu mở đoạn. Nếu cần nói tới đối tượng khác thì nên viết trong một đoạn văn khác. Đoạn văn mở bài chỉ giới thiệu đối tượng được miêu tả bằng cách trực

tiếp hay gián tiếp. Đoạn văn tả hình dáng của người, con vật...thì chỉ tả vấn đề được nêu trong câu mở đoạn, tránh nói sang vấn đề khác. Chỉ trừ khi học sinh chọn cách viết tổng hợp trong một đoạn văn thì không nên hướng dẫn các em viết theo cách trên mà có cách gợi mở khác. Nhưng đối với đối tượng học sinh trung bình, khá tôi thường hướng dẫn theo cách viết trên để các em dễ viết. Khi hướng dẫn học sinh viết thần phân đoạn, đầu tiên tôi thường cho các em câu mở đoạn sau đó viết tiếp để hoàn chỉnh đoạn văn.

Ví dụ: Dựa vào các câu mở đầu dưới đây để tạo một đoạn văn: " Chú Miu nhà tôi quả là đẹp."; " Bà ơi! Cháu làm sao có thể quên được hình bóng thân thương của bà."; " Thế rồi hình ảnh cô giáo tuyệt đẹp và đáng kính hiện dần lên trong đầu em."; " Buổi sáng trên quê hương em thật trong lành, mát mẻ."; " Mùa xuân xinh đẹp đã về!"....Trước hết, tôi cho các em đọc câu mở đoạn sau đó hỏi: "

Câu mở đoạn yêu cầu tả gì? Viết gì?" Từ đó hình thành cho các em các câu văn tiếp theo để hoàn chỉnh đoạn văn.

Khi dạy cách viết đoạn cho học sinh, tôi hướng dẫn chi tiết ở các tiết luyện ngoài ra khi dạy trên lớp gặp dạng bài viết đoạn, tôi hướng dẫn các em cụ thể hơn để từ đó các em hình thành cách viết cho các bài sau. Ví dụ khi dạy trên lớp có các bài: Viết đoạn văn tả cảnh buổi sáng trên ( trưa hoặc chiều) trong vườn cây

( công viên, trên đường phố, trên cách đồng, nương rẫy)( Tiếng Việt 5 Tập 1 trang 22); Chọn một đoạn và giúp bạn viết thêm vào những chỗ có dấu chấm để hoàn chỉnh nội dung của đoạn. Đoạn 1: " Lộp độp, lộp độp. Mưa rồi. Cơn mưa ào ào đổ xuống làm cho mọi hạot động như ngừng lại. Mưa ào ạt. (...). Một lát sau.

Mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Đoạn 2: Sau cơn mưa, có lẽ cây cối, hoa lá là tươi đẹp hơn tất cả. (...) ( TV 5 tập 1 trang 34); Viết đoạn văn tả ngoại hình của một người mà em thường gặp; Viết đoạn văn tả hoạt động của một người mà em yêu mến; Viết đoạn văn tả thân, cánh, lá, hoa mà em thích... Các em đã vận dụng rất tốt các kiến thức đã học để viết được đoạn văn hoàn chỉnh đúng yêu cầu của đề và cao hơn đoạn văn đã có cảm xúc chân thành, lời văn đã mượt mà hơn.

Nếu câu mở đoạn như một lời mời thì câu kết đoạn lại như một lời chào tạm biệt. Câu mở đoạn ngắn gọn, cô đọng thì câu kết đoạn cần bộc lộ cảm xúc chân thành, đằm thắm với đối tượng được tả. Câu mở đoạn là lời chào hấp dẫn gọi mời người đọc, câu kết đoạn lại là lời chào để người đọc lưu luyến, để lại ấn tượng không quên cho người đọc. Chính vì lí do như vậy mà tôi hướng dẫn học sinh viết câu kết đoạn tự nhiên, chân thành với cảm xúc của mình. Khi viết câu kết đoạn không nên gượng ép, gò bó quá mà mất tự nhiên gây phản cảm cho người đọc.

Một bài văn gồm nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau. Đoạn mở bài, đoạn thân bài ( trong đoạn thân bài gồm nhiều đoạn văn) và đoạn kết bài. Khi viết đoạn văn, học sinh cần nắm được cách liên kết các đoạn văn trong bài để hoàn chỉnh bài văn. Khi học sinh viết bài văn miêu tả, tôi lưu ý các em phần thân bài nên viết thành các đoạn. Mỗi đoạn miêu tả một phần của bài văn.như: đoạn tả từng bộ phận của cây, đoạn tả hoạt động của chim chóc, ong bướm quanh cây đối với bài văn tả cây cối; đoạn tả hình dáng, hoạt động đối với bài văn tả người... Để liên kết đoạn thành bài văn , tôi hướng dẫn học sinh sử dụng các quan hệ từ hoặc một số từ ngữ có tác dụng kết nối như: tuy nhiên, nhưng, cuối cùng, thậm chí, đồng thời...

9. BIỆN PHÁP THỨ CHÍN: Phương pháp dạy tiết trả bài có hiệu quả.

+ Bước chuẩn bị của giáo viên.

- Bước chuẩn bị của giáo viên là rất quan trọng. Muốn tiết trả bài đạt hiệu quả tốt người giáo viên phải chấm bài làm văn của học sinh thật kỹ, cận thận nhằm phát hiện những ưu điểm, nhược điểm của bài văn sau đó ghi ra theo trình tự sau để làm cơ sở cho việc chữa bài và giáo viên cần có sổ ghi lỗi mắc phải của học sinh.

* Bài văn của em nào diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật miêu tả so sánh nhân hoá... Bài văn nào có câu văn hay, ý hay, dùng từ sáng tạo, hình ảnh bố cục chặt chẽ …

Một phần của tài liệu Skkn học tốt văn miêu tả lớp 4,5 (Trang 25 - 37)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(41 trang)
w