Đến hạn trả nợ vào ngày 05/09/2013 nhưng ông C

Một phần của tài liệu Bt chương 5 luật ngân hàng (Trang 29 - 36)

ĐIỀU 9. CAM ĐOAN CỦA CÁC BÊN

4. Đến hạn trả nợ vào ngày 05/09/2013 nhưng ông C

Nợ quá hạn sẽ được chia thành 2 loại:

Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay có tài sản thế chấp nhưng chưa được giải thế chấp khi tới hạn. Đối với các khoản vay quá hạn thế chấp thì rất có thể tài sản sẽ bị thanh lý để bù nợ.

Nợ quá hạn không có tài sản thế chấp: Là các khoản vay tín chấp không cần tài sản thế chấp nhưng khi tới thời hạn không thanh toán được. Đối với các khoản vay này người đi vay sẽ bị xếp vào các nhóm nợ xấu và ngân hàng có khả năng cao là bị mất vốn.

Khi một cá nhân hoặc tổ chức vay vốn ngân hàng nhưng không trả được và rơi vào tình trạng nợ quá hạn. Thì các ngân hàng sẽ đưa ra những biện pháp trừng phạt để răn đe cũng như đòi số tiền đã vay.

- Bị phạt phí quá hạn rất cao với mức lãi suất gấp 150% so với lãi suất ban đầu. Ngoài ra còn phải chịu thêm các khoản phí dịch vụ khác đi kèm.

- Đưa vào danh sách nợ xấu, hạn chế khả năng vay vốn của người quá hạn hoặc người thân chung hộ khẩu trong tương lại.

- Bị lập hồ sơ và đưa ra toàn để khởi kiện với tội danh lợi dụng lòng tinh chiếm đoạt tài sản.

Thông thường, quy trình xử lý nợ quá hạn của ngân hàng sẽ được thực hiện dựa trên 02 nguồn cơ sở pháp lý:

Thứ nhất là quy định chung của Ngân hàng nhà nước về việc xử lý nợ quá hạn.

Thứ hai là quy định riêng tại Điều lệ, Thoả thuận cho vay và Hợp đồng bảo đảm tiền vay của từng Ngân hàng.

Căn cứ trên các quy định đó, quy trình xử lý nợ quá hạn của ngân hàng thường bao gồm các bước cơ bản như sau:

Bước 1: Thông báo về việc nợ quá hạn đối với khách hàng Bước 2: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Bước 3: Xử lý tài sản bảo đảm

Những cách xử lý nợ quá hạn của ngân hàng để thu hồi nợ quá hạn

1/ Gọi điện liên lạc với người đi vay để thông báo về khoản vay.

2/ Thông báo tới cơ quan, công ty nơi bạn đang làm việc để hỗ trợ ngân hàng thu hồi nợ.

3/ Bàn giao cho bên thứ 3 để thu hồi nợ.

4/ Đưa ra toàn để giải quyết theo đúng pháp luật.

5/ Lưu lịch sử nợ xấu trên CIC hạn chế bạn và người thân tham gia các sản phẩm vay vốn sau này.

Phần 2: Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng

Tình huống 6

Vụ án kinh doanh thương mại liên quan đến tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa NHTMCP Việt Á (“Nguyên đơn”) và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Tuyết Trang (“Bị đơn”).

Ngày 20/03/2007, Nguyên đơn ký hợp đồng tín dụng cho Bị đơn vay 1.600.000.000 VND. Để đảm bảo cho khoản vay, bà Lê Thị Tuyết Trang đã tự nguyện dùng tài sản (Nhà và đất tại số 59 Triệu Việt Vương, Phường Hải Châu 2, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng do UBND Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng cấp cho bà Lê Thị Tuyết Trang và ông Hoàng Hồng Kỳ vào ngày 07/07/2006 theo GCNQSDĐ số AB690015) để thế chấp cho Nguyên

đơn. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.

Khi đến ngày đáo hạn, Bị đơn không có khả năng trả nợ gốc và lãi. Ngày 18/04/2008, Nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2008/QĐST-KDTM ngày 08/09/2008, Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng quyết định: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Theo đó, Bị đơn cam kết trả nợ toàn bộ gốc và lãi cho đến ngày 31/08/2008.

Nếu Bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán nêu trên thì tài sản thế chấp sẽ được phát mãi để Nguyên đơn thu hồi nợ.

Ngày 30/07/2009, ông Hoàng Hồng Kỳ (chồng của bà Lê Thị Tuyết Trang) có đơn đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm vì ông cho rằng nhà và đất mà bà Trang đem đi thế chấp cho Nguyên đơn là tài sản chung của vợ chồng. Việc bà Trang đem tài sản chung của vợ chồng để thế chấp tại Nguyên đơn ông không hề được biết. Hơn nữa, ngày 10/12/2007, ông Kỳ có đơn xin ly hôn với bà Trang. Ngày 07/04/2008, Tòa án nhân dân Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng đã thụ lý giải quyết.

Theo đó, trong đơn ly hôn ông Kỳ đã yêu cầu toàn án phân chia tài sản chung của vợ chồng là nhà và đất mà bà Trang đang thế chấp tại Nguyên đơn.

Hỏi: Anh (chị) hãy xác định Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2008/QĐST-KDTM ngày 08/09/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng là đúng hay sai? Giải thích tại sao?

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2008/QĐST-KDTM ngày 08/09/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng là đúng. Vì Điều 5 BLTTDS năm 2015 đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn

yêu cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Và khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự. Khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết tranh chấp xuất phát từ ý chí định đoạt của đương sự. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau hay yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết là phụ thuộc vào quyết định của họ. Vì vậy, Tòa án không được can thiệp vào nội dung sự thỏa thuận của các đương sự mà Tòa án chỉ được ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận trên cơ sở những nội dung, những vấn đề mà các đương sự đã tự nguyện đồng ý sau khi thảo luận, thương lượng, cân nhắc và quyết định.

Tình huống 7

(Vấn đề: Xử lý tài sản đảm bảo đối với khoản vay của Hợp đồng tín dụng)

Vụ án kinh doanh thương mại liên quan đến tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (“Nguyên đơn”) và ông Trần Quang Thanh - bà Trương Thùy Dung (“Bị đơn”).

Ngày 31/01/2005, Nguyên đơn (Phòng giao dịch số 03 An Đông, Chi nhánh Bình Tây) và Bị đơn đã ký kết hợp đồng tín dụng với nội dung Nguyên đơn cho Bị đơn vay 2.100.000.000 VND, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là để làm kinh tế phụ hộ gia đình (hùn vốn kinh doanh).

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên, Bị đơn đã thế chấp cho Nguyên đơn tài sản là nhà và đất ở tại Số

D93/212B Đường Nguyễn Trãi, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc quyền sở hữu của ông Thanh và bà Dung). Gía trị tài sản thế chấp là

3.000.000 VND theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 02/NHNT-BT- PGD3/TC2005 ngày 31/01/2005. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.

Khi đến ngày đáo hạn, Bị đơn không có khả năng trả nợ gốc và lãi nên Nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 1853/2008/QĐST-KDTM ngày 20/11/2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Theo đó, thời hạn để Bị đơn thanh toán toàn bộ gốc và lãi là 02 tháng tính từ ngày 12/11/2008. Nếu Bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán nêu trên thì tài sản thế chấp sẽ được phát mãi để Nguyên đơn thu hồi nợ.

Ngày 18/07/2010, ông Huỳnh Văn Bượng và bà Nguyễn Thu Vân có đơn đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm vì tài sản bảo đảm đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đã được Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý số 240/TLST-DS ngày 11/10/2006 mà trong vụ án dân sự này ông Thanh và bà Dung là nguyên đơn (Bên mua nhà), ông Bượng và bà Vân là bị đơn (Bên bán nhà) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Câu hỏi:

Anh (chị) hãy xác định Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 1853/2008/QĐST-KDTM ngày 20/11/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng hay sai? Giải thích tại sao?

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số

1853/2008/QĐST KDTM của Tòa án nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh là Đúng.

Bởi vì theo nội dung bàn án, tranh chấp giữa Ngân hàng và bị đơn tranh chấp thực hiện hợp đồng tín dụng. Theo đó, khi Tòa án xét xử, hai bên có thỏa thuận về thời hạn thanh toán, nếu hết thời hạn thanh toán mà không trả đuợc thi thực hiện phát m mãi tài sản thể chấp để thu hối nợ. Những tài sản bao đảm đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án khác (hợp đồng mua bán nhà). Tuy nhiên, việc Tòa án công nhận sự thỏa thuận của hai bên, trong đó có nội dung về phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, thì đối với tải sản bảo đảm này, việc thỏa thuận là phù hợp theo quy định pháp luật.

Thứ nhất, đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyển sở hữu của bị đơn là ông

Thanh và bà Dung thì hai ông bà có quyền sử dụng tài sản này để thế chấp và vay tiền tại Ngân hàng. Bởi vì theo nội dung bản án, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Thanh và bà Dung, vì vậy, việc hai ông bà mang tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất làm thành hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng là có căn cứ.

Thứ hai, khi thực hiện hợp đồng thế chấp, hai bên đã thực hiện công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ. Khi đó hợp đồng thể chấp phát sinh hiệu lực pháp lý nên khi hai bên thỏa thuận tại Tòa án về phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp không trả hết số tiên đã vay và lãi để thu hồi nợ là phủ hợp với quyển và nghĩa vụ hai bên trong hợp đồng thể chấp trước đó.

Thứ ba, đối với việc tài sản bảo đảm đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà thì căn cứ theo nội dung án lệ số 43/2021 thể hiện thì quyền sừ dụng nhà và đất hiện là tài sản của ông Thanh và bà Dung nên việc hai ông bà đem tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp

là phù hơp theo quy định pháp luật. Đối với tranh chấp trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở, thì quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán nhà ở không thực hiện đầy đủ, nên thực hiện khởi kiện tại một vụ án khác không liên quan đến hợp đồng thế chấp.

Vì vậy, từ những lý do trên, Quyết định công nhân sự thỏa

thuận của các bên của Tòa án là phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi trong trường hợp này,vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở tách biệt so với Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Tranh chấp ở trong vụ án 2006 là tranh chấp quyền và nghĩa vụ của các bên mua, bán nhà. Khi đó, quyền sở hữu tài sản là đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của ông Thanh, bà Dung nên hai ông bà có thực hiện hợp đồng thế chấp với ngân hàng là có căn cử. Việc kiện đòi ở vụ án 2006 không ảnh hưởng đến tài sản đang được thể chấp. Nên hai bên có quyền thoả thuận về phát mãi tài sản đang tranh chấp trong trường hợp không trả được nợ và tiên lãi trong thời hạn cam kết, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

êu hết thời hạn thanh toán mà không trả đuợc thi tán nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh là Đúng. Bon vì theo nội dung bàn án, tranh chấp giữa Ngân hàng và bị đơmn là tranh chấp thực hiện hợp đông tín dụng. Theo đó, khi Tòa án xét xu, hai bêncó thỏa thuận về thời hạn thanh toán, nêu hết thời hạn thanh toán mà không trả đuợc thi thực hiện phát mẫi tài sản thể chấp để thu hối nợ. Nhung tải sản bao đản đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án khác (hợp đông mua bán nhà). Tuy nhiên, việc Tòa án công nhận sự thoa thuân cua hai bên, trong đó có nội dung về phát mẫi tài sản thể chấp để thu hỗi ng, thi đổi với tải sản bao đam này, việc thoa thuận là phù hơp theo quy định pháp luat.Quyêt đinh công nhận sự thoa thuận cua các đương su số 1853/2008/QĐST KDTM của Tòa án nhân dân Thành phố Hỗ Chí Minh là Đúng. Bon vì theo nội dung bàn án, tranh chấp giữa Ngân hàng và bị đơmn là tranh chấp thực hiện hợp đông tín dụng. Theo đó, khi Tòa án xét xu, hai bêncó thỏa thuận về thời hạn thanh toán, nêu hết thời hạn thanh toán mà không trả đuợc thi thực hiện phát mẫi tài sản thể chấp để thu hối nợ. Nhung tải sản bao đản đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án khác (hợp đông mua bán nhà). Tuy nhiên, việc Tòa án công nhận sự

Một phần của tài liệu Bt chương 5 luật ngân hàng (Trang 29 - 36)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(36 trang)
w