ĐẢNG LÃNH ĐẠO HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN, HOÀN THÀNH GIẢI PHÓNG DÂN

Một phần của tài liệu Sách tham khảo: Hướng dẫn học tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Trang 50 - 81)

Câu 12: Làm rõ tình hình Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và nội dung, ý nghĩa lịch sử của Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua ngày 25-11-1945.

* Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Thuận lợi

Cục diện khu vực và thế giới có những sự thay đổi lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam. Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội. Nhiều nước ở Đông Âu, được giúp đỡ của Liên Xô đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latinh dâng cao.

Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới. Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước. Đặc biệt, việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ cấp Trung ương đến cơ sở, ra sức phục vụ lợi ích của Tổ quốc, nhân dân.

51

Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của nền độc lập, tự do, là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

uân đội quốc gia và lực lượng Công an, luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn trương xây dựng, phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế độ mới.

- Khó khăn

Trên thế giới, phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu

“chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Do lợi ích cục bộ của mình, các nước lớn không ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của nhà nước Việt Nam. Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng ba nước Đông Dương phải đương đầu

với nhiều bất lợi, khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng.

Trong nước, hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, yếu kém về nhiều mặt; hậu quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm 1945 rất nghiêm trọng. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, công nghiệp đình đốn, 50% ruộng đất bị bỏ hoang; nền tài chính, ngân khố kiệt quệ, kho bạc trống rỗng; các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục, 95% dân số thất học, mù chữ, nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói. Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng

52

nhất lúc này là âm mưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp.

Từ tháng 9-1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 2 vạn quân đội Anh- Ấn đổ bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. uân đội Anh đã trực tiếp bảo trợ, sử dụng đội quân Nhật giúp sức quân Pháp ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn-Chợ Lớn (Nam Bộ) vào rạng sáng ngày 23-9-1945, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp ở Việt Nam.

Ở Bắc vĩ tuyến 16, theo thỏa thuận Hiệp ước Potsdam, từ cuối tháng 8-1945, hơn 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch tràn qua biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân đội Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ”, phá Việt Minh. Trong khi đó, trên đất nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật chưa được giải giáp.

Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và bọn thù trong, giặc ngoài.

* Nội dung Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”

Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền.

53

- Kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.

- Mục tiêu của cuộc cách mạng: Vẫn là “dân tộc giải phóng”.

- Khẩu hiệu: “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”.

- Nhiệm vụ: Củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân.

- Chỉ thị vạch ra những biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trên:

+ Về nội chính: Xúc tiến việc bầu cử uốc hội, thành lập chính phủ chính thức, lập Hiến pháp, củng cố chính quyền nhân dân.

+ Về quân sự: Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài.

+ Về ngoại giao: Kiên trì nguyên tắc “bình đẳng tương trợ”, thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện” đối với Tưởng và chủ trương “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Pháp.

+ Về tuyên truyền: Hết sức kêu gọi đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược; đặc biệt chống mọi âm mưu

phá hoại chia rẽ của Trốtxkít, Đại Việt, Việt Nam uốc dân Đảng...

* Ý nghĩa lịch sử

Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong bản Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” đã đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc

54

bấy giờ. Đồng thời, có tác dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ;

xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn đầy khó khăn, phức tạp này.

Câu 13: Trình bày chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về xây dựng, bảo vệ chế độ mới và chính quyền cách mạng những năm 1945-1946.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa gặp phải nhiều khó khăn to lớn, hiểm nghèo. Trước tình hình đó, ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt:

* Củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nền móng chế độ mới

Xây dựng cơ sở pháp lý cho chính quyền mới: để khẳng định địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương sớm tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc theo hình thức phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập chính phủ chính thức. Ngày 6-1-1946, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được thành lập thông qua phổ thông bầu cử. Hiến pháp dân chủ nhân dân được Quốc hội thông qua và ban hành (11-1946).

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp có ý nghĩa chính trị to lớn, là sự kiện quan

55

trọng tập hợp đoàn kết toàn dân xung quanh Đảng và Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội: Mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng Mặt trận Việt Minh, lập thêm một số tổ chức mới để tập hợp đoàn kết dân tộc (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đảng xã hội Việt Nam và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam)

Xây dựng chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong sạch, vững mạnh thực sự của dân, do dân, vì dân.

* Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói

Đảng và Chính phủ đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói; xóa bỏ các thứ thuế vô lý của chế độ cũ; ra sắc lệnh giảm tô 25%; tiến hành tịch thu ruộng đất của đế quốc, việt gian, đất hoang hóa chia cho nông dân nghèo. Các lĩnh vực sản xuất được hồi phục. Ngân khố quốc gia được xây dựng lại, giấy bạc “Cụ Hồ” được phát hành (11-1946). Cuối năm 1945, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, năm 1946 đời sống nhân dân được ổn định và có cải thiện.

* Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ”, mở lại các lớp và tổ chức khai giảng năm học mới. Cuộc vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới đã bước đầu xóa bỏ nhiều tệ nạn xã hội và tập tục lạc hậu. Phong trào diệt dốt, bình dân học vụ được thực hiện sôi nổi. Cuối năm 1946, cả nước đã có thêm 2.5 triệu người biết đọc, biết viết. Đời sống tinh thần của một bộ phân

56

nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới.

*Về tài chính

Chính phủ tiết kiệm chi tiêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân đóng góp tiền, ủng hộ Chính phủ tạo lập ngân sách. Chỉ trong một thời gian ngắn, cả nước đã góp được hàng chục triệu đồng và hàng trăm kg vàng. Bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập.

* Chống thù trong, giặc ngoài

Thực hiện sách lược hòa hoãn. Hòa với Tưởng ở miền Bắc, kháng Pháp ở miền Nam.

- Đối với Tưởng, ta tạm thời chọn biện pháp hòa hoãn để tránh đụng đầu cùng một lúc với nhiều kẻ thù, nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi về kinh tế, chính trị; cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, nhận tiêu tiền “quan kim, quốc tệ”; đồng ý cho bọn tay sai của Tưởng 70 ghế trong Quốc hội, 4 ghế bộ trưởng trong Chính phủ. Mặt khác, Chính phủ dựa vào quần chúng, kiên quyết trừng trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại của bọn tay sai của Tưởng.

- Đối với thực dân Pháp, ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ, nhân dân Nam Bộ đã cương quyết đứng lên đánh Pháp. Nhân dân miền Bắc, miền Trung hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Hồ Chí Minh dồn sức người, sức của ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

- Đầu năm 1946, Pháp và Tưởng cấu kết với nhau để Pháp tiến ra Bắc. Ta chủ trương tạm hòa với Pháp, chủ động

57

ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và bản Tạm ước (14-9-1946) buộc Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, đồng thời ta cũng phải nhượng bộ cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, chính trị và cho Pháp đưa 15 nghìn quân ra miền Bắc để nhanh chóng đuổi 20 vạn quân Tưởng và bọn tay sai ra khỏi lãnh thổ nước ta. Tranh thủ thời gian hòa hoãn, ta chuẩn bị lực lượng nhằm đối phó lâu dài với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.

Thực hiện sách lược hòa hoãn, chứng tỏ sự sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự lãnh đạo cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù, không cho chúng tập trung lực lượng chống phá ta; đưa nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thử thách to lớn lúc đó, giữ vững thành quả vĩ đại của Cách mạng tháng Tám.

Ý nghĩa của những thành quả đấu tranh nói trên là đã bảo vệ được nền độc lập của đất nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây dựng được những nền móng đầu tiên và cơ bản cho một chế độ mới, chế độ Việt Nam Dân chủ cộng hòa; chuẩn bị được những điều kiện cần thiết, trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau này.

Câu 14: Chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến và nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng những năm 1946-1950.

* Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng và Chính phủ ta đã tỏ rõ thiện chí, thực hiện nhiều biện pháp nhằm đẩy

58

lùi chiến tranh để xây dựng đất nước, nên đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946.

Tuy nhiên, với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp thi hành chính sách việc đã rồi, tăng cường khiêu khích và lấn chiếm, mở đầu bằng cuộc tấn công chiếm đóng thành phố Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng.

Ngày 16, 17-12-1946, quân đội Pháp ở Hà Nội ngang nhiên tấn công đánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính của ta; gây ra vụ thảm sát ở phố Yên Ninh và Hàng Bún.

Ngày 18-12, đại diện Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam, đưa liên tiếp ba tối hậu thư đòi phía Việt Nam phải giải giáp; phải phá bỏ công sự; giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, đòi độc quyền thực thi nhiệm vụ kiểm soát, gìn giữ an ninh, trật tự của thành phố...

Đảng và nhân dân Việt Nam chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất: Cầm súng đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng; bảo vệ những thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám vừa giành được.

Trước hành động ngày càng lấn tới của địch, ta không

thể nhân nhượng với chúng được nữa, vì tiếp tục nhân nhượng là mất nước, quay lại cuộc đời nô lệ. Vì vậy, tối ngày 19-12-1946,

Đảng và Chính phủ đã phát động toàn quốc kháng chiến.

* Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng những năm 1946-1950

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp được hình thành từ đầu cuộc kháng chiến và được phát triển, bổ sung trong quá trình tiến hành kháng chiến. Nội dung cơ bản được

59

thể hiện qua các văn kiện quan trọng của Đảng: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12- 1946); Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Thường vụ Trung ương Đảng (22-12-1946); tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Tổng Bí thư Trường Chinh (9-1947). Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng (1946-1950) đã xác định những nội dung cơ bản sau:

- Mục tiêu của kháng chiến: Đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất hoàn toàn vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới.

- Tính chất kháng chiến: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta có tính chất dân tộc giải phóng, dân chủ mới và chính nghĩa.

- Phương châm kháng chiến: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.

Kháng chiến toàn dân: Đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích cực tham gia kháng chiến. Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một mặt trận”. uân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

Kháng chiến toàn diện: Đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định.

60

Kháng chiến lâu dài: Tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng, là một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta; lấy thời gian là lực lượng vật chất để chuyển hóa yếu thành mạnh. Kháng chiến lâu dài nhưng không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn mà phải luôn tranh thủ, chớp thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến có bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Kháng chiến dựa vào sức mình là chính: Sự kế thừa tư tưởng chiến lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần vốn của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của cuộc chiến tranh nhân dân. Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát huy cao độ và có hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần và vật chất của quốc tế khi có điều kiện.

Lấy độc lập, tự chủ về đường lối là yếu tố quan trọng hàng đầu.

- Triển vọng kháng chiến: Cuộc kháng chiến có thể kéo dài, khó khăn, gian khổ, nhiều hy sinh, song nhất định thắng lợi sẽ thuộc về nhân dân Việt Nam.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng, trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên. Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Một phần của tài liệu Sách tham khảo: Hướng dẫn học tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Trang 50 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(106 trang)