Kiểm soát chất lượng trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Một phần của tài liệu 5 đề tài đề tài luận văn thạc sĩ kế toán (Trang 62 - 69)

7. Kết cấu của luận văn

1.3. Kiểm soát chất lượng trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Đối với kiểm soát chất lượng kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán, đây chính là nội dung kiểm soát chất lượng trong các giai đoạn của cuộc kiểm toán, bao gồm:

chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.

1.3.1. Kiểm soát chất lượng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên cần thu thập các thông tin ban đầu về khách hàng gồm: tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu và đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, … để từ đó đưa ra quyết định có nên duy trì một khách hàng cũ hay chấp nhận một khách hàng mới hay không?

Nếu duy trì và chấp nhận khách hàng thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ lập kế hoạch kiểm toán. Nội dung của kế hoạch kiểm toán bao gồm mục tiêu, nội dung của cuộc kiểm toán, mức trọng yếu, rủi ro kiểm toán… Do kế hoạch kiểm toán gồm nhiều nội dung và yêu cầu đối với kế hoạch kiểm toán rất cao nên kế hoạch kiểm

toán cần được kiểm soát một cách đầy đủ, thận trọng trước khi tiến hành kiểm toán để đảm bảo kế hoạch kiểm toán có tính khả thi và hiệu quả.

Kế hoạch kiểm toán phải được kiểm soát đầy đủ và được thành viên ban giám đốc phụ trách khách hàng phê duyệt trước khi thực hiện kiểm toán.

Tuỳ theo từng đặc điểm của từng cuộc kiểm toán cụ thể về mặt rủi ro, tính chất phức tạp, thời gian kiểm toán …, kế hoạch kiểm toán được kiểm soát bởi các cấp bậc khác nhau song về cơ bản kế hoạch kiểm toán phải được chủ nhiệm kiểm toán và giám đốc phụ trách khách hàng soát xét. Ngoài ra, có thể cần có sự soát xét của các chuyên gia, của thành viên ban giám đốc kiểm soát chất lượng kiểm toán thực hiện soát xét đối với các cuộc kiểm toán phức tạp, có độ rủi ro cao.

Nội dung của kiểm soát trong giai đoạn này là việc đánh giá tính đầy đủ và phù hợp của các nội dung cơ bản sau trong kế hoạch kiểm toán, bao gồm:

Một là, Đảm bảo kế hoạch kiểm toán được lập theo đúng chuẩn mực nghề nghiệp, các quy định pháp lý có liên quan, các hướng dẫn thực hiện kiểm toán của công ty kiểm toán;

Hai là, tính khả thi của mục tiêu kiểm toán và tính phù hợp của nội dung, phạm vi kiểm toán;

Ba là,các nguồn lực hỗ trợ thực hiện cuộc kiểm toán như các phát hiện của kiểm toán viên nội bộ, các kết luận thanh tra, kiểm tra của các tổ chức quản lý khác đối với khách thể kiểm toán;

Bốn là, các vấn đề trọng yếu cần tập trung xử lý được phát hiện trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán; và hướng xử lý các vấn đề phát sinh từ các cuộc kiểm toán trước;

Năm là,đảm bảo tất cả các thành viên nhóm kiểm toán đều hiểu rõ kế hoạch kiểm toán, hiểu rõ phần hành công việc được phân công và đảm bảo không có bất đồng về lợi ích nào khiến cho kiểm toán viên thực hiện công việc kiểm toán được phân công một cách không khách quan, chính xác;

Sáu là, xác định các nhân tố của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán; và tính hợp lý, đầy đủ của việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán;

Bảy là,sử dụng các thủ tục phân tích phù hợp; Xác định phương pháp chọn mẫu và tổng thể; Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát; và xác định mức trọng yếu kế hoạch trong quá trình lập kế hoạch và mức độ sai sót có thể chấp nhận được;

Tám là,tính hợp lý của việc bố trí thời gian kiểm toán; lập kế hoạch ngân sách và kế hoạch thời gian nhân sự thực hiện kiểm toán; và tính phù hợp trong việc phân công công việc cho các kiểm toán viên với năng lực, trình độ nghiệp vụ tương xứng của từng kiểm toán viên.

1.3.2. Kiểm soát chất lượng trong giai đoạn thực kiểm toán

Thực hiện kiểm toán là quá trình kiểm toán viên sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích hợp với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó là quá trình triển khai kế hoạch kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính dựa trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy.

Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn này, kiểm soát chất lượng cần phải được tiến hành đồng thời theo từng bước công việc và thủ tục kiểm toán. Việc kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kiểm toán này tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

Một là,công việc kiểm toán được thực hiện theo đúng chuẩn mực nghề nghiệp, các hướng dẫn về thực hành kiểm toán và các quy định của công ty.

Hai là, công việc kiểm toán được thực hiện theo đúng kế hoạch đã được lập và phê duyệt; và các nhân viên tham gia kiểm toán phù hợp với yêu cầu đề ra trong kế hoạch về cấp bậc nhân viên, thời gian tham gia và chi phí cho việc thực hiện kiểm toán.

Ba là, tính đầy đủ về việc thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với các phần hành quan trọng được nêu trong kế hoạch kiểm toán; và tính phù hợp của các thủ tục kiểm toán được sử dụng nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán và đưa ra các bằng chứng thuyết phục.

Bốn là, Tính đầy đủ, kịp thời trong việc kiểm tra, giám sát kết quả sau mỗi giai đoạn, mỗi bước công việc kiểm toán hoàn thành; Soát xét công việc của các chuyên gia (nếu có); Tính tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên theo nguyên tắc chính trực, độc lập, khách quan và bí mật.

1.3.3. Kiểm soát chất lượng trong giai đoạn kết thúc kiểm toán

Giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là phát hành báo cáo kiểm toán. Báo cáo kiểm toán thực chất là một bản thông báo về kết quả cuộc kiểm toán cho người sử dụng báo cáo tài chính và chất lượng báo cáo kiểm toán là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán. Với ý nghĩa quan trọng đó, việc kiểm soát giai đoạn lập và phát hành báo cáo kiểm toán là nội dung quan trọng để bảo đảm chất lượng cuộc kiểm toán, đặc biệt đối với những cuộc kiểm toán có quy mô lớn và phức tạp.

Nội dung chính cần kiểm soát trong giai đoạn này bao gồm:

Một là, tất cả các phát hiện trong quá trình kiểm toán đều được đánh giá trên cơ sở trọng yếu, bất thường và được ghi chép lại trên giấy tờ làm viêc, để có hướng xử lý hoặc để xin ý kiến xử lý của cấp cao hơn;

Hai là, tính đầy đủ của các thủ tục kiểm toán được thực hiện trong giai đoạn kết thúc cuộc kiểm toán; Các kết luận trên báo cáo kiểm toán được minh chứng bởi các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp;

Ba là,xem xét báo cáo có được lập theo đúng chuẩn mực kiểm toán hiện hành, các chính sách, hướng dẫn thực hiện công việc của công ty và các tổ chức nghề nghiệp liên quan; Hình thức và nội dung của báo cáo có phù hợp với các quy định đã được thiết lập (tiêu đề, chữ ký, ngày tháng, mục tiêu và phạm vi, cơ sở pháp lý);

Bốn là, báo cáo kiểm toán phải bao quát được tất cả các nội dung phản ánh mục tiêu của cuộc kiểm toán, trường hợp không phản ánh đầy đủ tất cả các nội dung đó, phải có sự giải thích đầy đủ; Báo cáo kiểm toán được hoàn thành đúng thời gian, do các kiểm toán viên có trình độ chuyên môn phù hợp thực hiện;

Năm là,các sự kiện sau ngày khoá sổ được xem xét và trình bày thích hợp trên báo cáo kiểm toán; Các gian lận được thông báo đến các cấp có thẩm quyền phù hợp; Hồ sơ kiểm toán được cập nhật đầy đủ kết quả kiểm toán;

1.3.4. Kiểm soát chất lượng kiểm toán sau khi ký báo cáo kiểm toán

Đối tượng kiểm soát là những hồ sơ kiểm toán đã thực hiện. Quy trình kiểm soát này thường do các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức hiệp, hội nghề nghiệp tiến hành kiểm tra tại các công ty kiểm toán độc lập hoặc do chính các công ty kiểm toán thực hiện.

Việc kiểm soát bao gồm 3 giai đoạn sau: Giai đoạn chuẩn bị kiểm soát, giai đoạn thực hiện kiểm soát, giai đoạn lập và thông báo kết quả kiểm soát.

Một là,kiểm soát trong giai đoạn chuẩn bị kiểm soát

Trong giai đoạn này cần thực hiện các công việc cụ thể sau:

Lựa chọn nhân sự tham gia kiểm tra: Việc kiểm tra phải được thực hiện bởi một nhóm kiểm soát phù hợp. Trưởng nhóm thực hiện kiểm tra phải ít nhất ở cấp bậc chủ nhiệm kiểm toán và phải là người có kinh nghiệm kiểm toán đã được khẳng định. Các thành viên khác gồm các chủ nhiệm kiểm toán và các kiểm toán viên có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp với công việc đảm nhiệm. Số lượng các thành viên tuỳ thuộc vào số lượng hồ sơ được lựa chọn để kiểm tra, loại hồ sơ, tính độc lập của các thành viên dự kiến sẽ lựa chọn đối với hồ sơ được kiểm tra.

Lập kế hoạch kiểm soát gồm kế hoạch về thời gian, nhân sự thực hiện kiểm tra đối với từng hồ sơ cụ thể, xây dựng chương trình thực hiện các thủ tục kiểm tra; mục tiêu kiểm soát; nội dung và trọng tâm kiểm soát; phương pháp kiểm soát; thời gian kiểm soát và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm kiểm soát.

Hai là,giai đoạn thực hiện kiểm soát, những bước công việc cần thực hiện bao gồm:

Lựa chọn hồ sơ kiểm toán cần kiểm tra. Khi lựa chọn hồ sơ để thực hiện kiểm soát cần dựa trên một số tiêu chuẩn như sau: (i) Các hợp đồng được lựa chọn để kiểm tra phải bao trùm được các dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ bảo đảm khác của doanh nghiệp được kiểm tra, cần tập trung vào các hợp đồng có mức độ rủi ro cao. Các nhân tố dùng để đánh giá mức độ rủi ro của hợp đồng bao gồm: quy mô, lĩnh vực, ngành nghề; mức độ đảm bảo (hợp đồng kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính …); nhóm thực hiện; các tranh chấp, kiện tụng trong ngành; khách hàng được cung cấp nhiều loại dịch vụ trong kỳ;

khách hàng có phí dịch vụ lớn; các rủi ro liên quan đến khách hàng và khách hàng đặc biệt. (ii) Khách hàng mới thực hiện kiểm toán năm đầu tiên hay khách hàng mà công ty đã thôi không thực hiện kiểm toán. (iii) Các hợp đồng có ngày phát hành báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán không bình thường.

Thực hiện kiểm tra các hồ sơ cụ thể trên cơ sở kế hoạch và chương trình đã được xây dựng trong kế hoạch kiểm tra. Việc kiểm soát sẽ được tiến hành dựa trên 2 khía cạnh:

kiểm tra hệ thống và kiểm tra kỹ thuật.

Kiểm tra hệ thống là việc kiểm tra, xem xét về tổ chức và nhân sự của đơn vị để đánh giá khả năng thực hiện hoạt động kiểm toán theo các chuẩn mực và nguyên tắc nghề nghiệp.Việc thực hiện kiểm tra hệ thống được tiến hành trên các khía cạnh sau:

- Xem xét và đánh giá việc thiết kế và thực hiện của hệ thống kiểm soát chất lượng. Việc xem xét phải bao trùm được tất cả các bộ phận cũng như các cấp độ trong phạm vi doanh nghiệp được kiểm tra, cụ thể:

+ Xem xét việc tuân thủ các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng của đơn vị được kiểm tra để đánh giá: Sự tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp, tuân thủ pháp luật và các quy định; hệ thống kiểm soát chất lượng có được thiết kế phù hợp và thực hiên hữu hiệu hay không; các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp có được áp dụng hợp lý không, có đảm bảo là chất lượng dịch vụ cung cấp phù hợp với tình hình cụ thể hay không.

+ Khi xem xét và đánh giá hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp được kiểm tra, đoàn kiểm tra cần phân tích rõ các vấn đề sau: các quy định mới sửa đổi, bổ sung của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định có liên quan và cách chúng được phản ánh trong các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng có phù hợp hay không; xác định các nội dung cần điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng.

- Xem xét các vùng có rủi ro lớn trong các hợp đồng đã được lựa chọn.

- Đánh giá sự hợp lý của phạm vi được kiểm tra dựa trên kết quả đạt được để xác định xem có cần thêm các thủ tục bổ sung hay không.

Việc kiểm tra hệ thống chỉ được coi là bước khảo sát, đánh giá ban đầu. Kết quả kiểm tra hệ thống chưa thể đánh giá được chất lượng kiểm toán của đơn vị mà chỉ là cơ sở để lựa chọn các hồ sơ cho việc kiểm tra kỹ thuật.

Kiểm tra kỹ thuật là việc kiểm tra, soát xét hồ sơ kiểm toán để đánh giá về việc thực hiện các chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán.

Công việc kế toán và hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính có rủi ro tiềm tàng cao do sử dụng các ước tính kế toán, nhiều khoản dự phòng hoặc các cơ sở dẫn liệu khó kiểm tra được. Nhóm kiểm tra phải thực hiện các thủ tục để xác định doanh nghiệp được kiểm tra có xác định vùng rủi ro cho mỗi hợp đồng được lựa chọn để kiểm tra hay không; có thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết liên quan đến việc xác định vùng có rủi ro cao hay không và có lưu trữ vào hồ sơ về các thủ tục kiểm tra đã thực hiện đối với các vùng có rủi ro cao này hay không.

Đối với mỗi hồ sơ kiểm toán được lựa chọn để kiểm tra, nhóm kiểm tra cần đánh

giá về các vấn đề sau:

- Đơn vị được kiểm tra có dựa vào các chuẩn mực nghề nghiệp để phát hành báo cáo kiểm toán hay không.

- Báo cáo kiểm toán có được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp trên các khía cạnh trọng yếu hay không.

- Việc lưu trữ hồ sơ kiểm toán có đầy đủ bằng chứng thích hợp làm cơ sở để đưa ra ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán hay không.

- Đơn vị được kiểm tra có tuân thủ các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng do mình thiết lập hay không.

Ba là,giai đoạn tổng hợp và lập báo cáo kiểm soát

Trong giai đoạn này, nhóm kiểm soát thực hiện việc tổng hợp các phát hiện trong quá trình kiểm tra và lập báo cáo kiểm soát. Trong báo cáo này, nhóm kiểm soát sẽ đưa ra những ưu, nhược điểm về hệ thống kiểm soát chất lượng kiểm toán mà đơn vị đã thiết kế và áp dụng; đánh giá về chất lượng kiểm toán của đơn vị được kiểm tra. Để từ đó, đơn vị được kiểm soát có thể xây dựng các biện pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán tại đơn vị nhằm nâng cao chất lượng của các cuộc kiểm toán thực hiện.

Một phần của tài liệu 5 đề tài đề tài luận văn thạc sĩ kế toán (Trang 62 - 69)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(180 trang)