Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.3 Con trâu của người Việt
1.3.2 Quá trình thuần hóa
Trâu có từ khi nào thì cũng không biết chính xác, chỉ biết rằng trâu gắn với con người khi nghề nông nghiệp lúa nước của nước ta ra đời. Trong kho tàng truyện cổ tích của người Việt có kể “Sự tích con trâu” rằng: Hồi tạo thiên lập địa, Ngọc Hoàng cho mời các tiên đến thảo luận về việc dưới trần không có ngũ cốc và Ngọc Hoàng muốn ban ngũ cốc xuống cho loài người. Tiên Kim Quang lãnh trách nhiệm này.
Ngọc Hoàng giao cho Kim Quang mười hạt lúa và một nắm cỏ, sai gieo lúa trước, còn đất thì gieo cỏ. Nhưng khi xuống dưới trần Kim Quang quên lời dặn, thuận tay gieo cỏ trước, cỏ mọc lên tốt lấn át lúa. Người dân kêu lên thiên đình, Ngọc Hoàng đã trừng phạt Kim Quang phải biến thành con vật to, có hai sừng cong cong, phải nghe lời người dặn và ăn hết cỏ dưới trần gian. Con vật đó gọi là con trâu [Nguyễn Xuân Kính 2005, 134- 135]. Như vậy, theo dân gian thì con trâu đến với đời sống người Việt là do Ngọc Hoàng trừng phạt kẻ làm sai việc và người Việt không phải vất vả thuần hóa.
Tuy nhiên, trên góc độ khoa học thì con trâu có được vị thế trong đời sống người Việt là cả một quá trình lâu dài. Trâu nhà Việt Nam ngày nay được thuần hóa từ trâu rừng cách đây khá sớm. Những hóa thạch tìm được đã phần nào cho ta xác định được thời gian trâu nhà được thuần hóa. Những hóa thạch loài trâu được tìm thấy ở hang động Thẩm Khuyên, Phai Vệ, Kéo Khèn Lạng Sơn, hang Hùm (Hoàng Liên Sơn), Thẩm Òm (Nghệ An)…cách đây hàng chục vạn năm. Buổi đầu trâu là đối tượng săn bắt để giết thịt của người Việt cổ [Trần Quốc Vượng 2000: 345].
Trâu Việt thủa đầu là trâu rừng hoang dã, sống phổ biến trong các khu rừng gần đầm lầy. Tổ tiên người Việt trước khi biết định cư sinh sống bằng nghề nông nghiệp thì sống bằng nghề săn bắt hái lượm, trâu và những loài động vật khác là đối tượng săn bắn làm thịt trước khi được thuần hóa.Vào thời kì muộn hơn tức vào thời văn hóa Hòa Bình, Phùng Nguyên thì nhiều hóa thạch trâu trong họ Bovidae đã được tìm
thấy như răng trâu, xương trâu rừng ở Thẩm Dương (Lai Châu), Phúc Lộc (Thanh Hóa)... Các di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phú), Gò Mun…đều có nhiều xương trâu bò. Đến giai đoạn Đông Sơn thì xương trâu bò nhiều và đa dạng hơn. Tại Thiệu Dương, Thiệu Hóa- Thanh Hóa gần Đông Sơn đào được sừng sọ, xương chi, răng trâu nhà [Nguyễn Đức Thạc 2006: 12]. Tức là, theo thời gian thì càng gần ta tần suất trâu, bò xuất hiện càng nhiều và phong phú hơn.
Qua những di chỉ được tìm thấy thì con trâu ở nước ta xuất hiện khá sớm, là động vật tự nhiên tồn tại song song với cuộc sống con người. Có thể người Việt đã thuần hóa trâu nhà từ chính những con trâu hoang bản địa. Khi chưa có nhu cầu tận dụng trâu thì người Việt chỉ săn bắn chúng nhưng khi xã hội càng phát triển, có những bước tiến mới trong phương thức mưu sinh thì con trâu đã được tận dụng. Đó là lúc người phụ nữ chuyển từ hái lượm sang trồng trọt, người đàn ông chuyển từ săn bắn sang thuần hóa vật nuôi. Theo một số học giả thì trâu Việt được thuần hóa vào cùng khoảng thời gian nông nghiệp trồng lúa nước ra đời: “Đến cuối thời đá mới, cách ngày nay 5000 – 6000 năm cùng với sự ra đời của nghề nông trồng lúa ở các thung lung chân núi và đồng bằng ven biển, con trâu đã được thuần phục và thuần dưỡng” [Trần Quốc Vượng 2000: 345]. Theo Nguyễn Đức Thạc (2006), chậm nhất vào hậu thời đá mới cách đây 4- 4,5 ngàn năm người Việt cổ đã thuần hóa trâu rừng thành trâu nhà để giúp việc đắc lực cho con người trong nông nghiệp. Điều này cũng có thể tin tưởng được dựa trên nhiều di chỉ trong thời đá mới, đồng thau ở Tràng Kênh (Hải Phòng), Tiên Hội, Đình Tràng (Hà Nội), Đồng Đậu (Vĩnh Phúc)…Con trâu người Việt được thuần hóa thủa đầu vừa có chức năng lấy thịt vừa cung cấp sức kéo. Từ nhu cầu làm nông nghiệp ruộng nước, người xưa khá tinh tế để nhận thấy những đặc tính của trâu là phù hợp để thuần hóa chúng. Trâu bản tính hiền lành, chậm chạp, ưa đầm nước, khỏe, lại dễ nuôi… Đấy là những tính quý và hữu ích nhất.
Những ngày đầu trình độ canh tác của người Việt còn thô sơ (hỏa canh thủy nậu), con trâu được sử dụng chỉ để làm đất đơn giản là dẫm nát cỏ, làm nhừ đất rồi người sẽ gieo trồng lúa trên mảnh đất đó. Con trâu cứ thế sống bên cuộc sống người nông dân. Càng về sau, trình độ kĩ thuật được cải thiện với sự ra đời của nghề luyện kim
cho ra những lưỡi cày đồng thì con trâu lại được huấn luyện thêm kĩ năng mới khó hơn đó là kéo cày. Sau đó là sự ra đời của lưỡi cày sắt thì trách nhiệm của con trâu lại càng tăng, theo đó vị trí của con trâu trong đời sống của người Việt cũng ngày càng quan trọng. Những kĩ năng của trâu được con người dạy tiệm tiến theo trình độ phát triển của đời sống sản xuất từ cày, bừa, đến kéo xe, kéo gỗ… Cứ thế con trâu dần dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống người nông dân. Trâu đi theo con người không quản ngại khó khăn, vất vả, rồi trâu đi vào đời sống tinh thần của người Việt, trong nghệ thuật, ca dao tục ngữ, trong thơ ca.
Như vậy, con trâu đã xuất hiện sớm và sớm được người Việt chú ý. Từ một con vật hoang, xa cách với con người thậm chí con người còn là kẻ thù của chúng, đã dần dần trở thành một vật nuôi gần gũi, thân thiết. Một phần bởi những đặc tính của nó, một phần bởi những giá trị tiềm năng của nó. Việc thuần hóa trâu thành vật nuôi đã tạo nên một bước phát triển mới trong nông nghiệp truyền thống của người Việt thủa ban đầu cũng như về sau này.
Tiểu kết chương 1
Người Việt là tộc người đa số có vai trò quan trọng trong việc dựng nước và giữ nước, là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Nước ta trải qua tiến trình lịch sử lâu dài, chống lại thiên nhiên khắc nghiệt rồi chống giặc ngoại bang xâm lược. Trong mỗi bước đi của đất nước thì người Việt luôn khẳng định được vị trí tiên phong của mình. Nói về người Việt cũng là nói về dân tộc Việt Nam, tìm hiểu về văn hóa người Việt cũng là văn hóa Việt Nam.
Sản xuất nông nghiệp lúa nước là hoạt động kinh tế chính của người Việt. Với nghề trồng lúa nước lâu đời mà đã sớm hình thành nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Văn minh nông nghiệp lúa nước là nền tảng cho văn hóa truyền thống của người Việt nói riêng và Việt Nam nói chung. Phương thức canh tác đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các giá trị văn hóa truyền thống, từ việc cư trú của cộng đồng người đến những giá trị văn hóa cốt lõi. Văn hóa là những giá trị được tích lũy theo thời gian, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Nền nông nghiệp nước ta được người Việt tạo dựng nên từ rất lâu đi cùng với lịch sử phát triển của người Việt, đó là một quá trình phát triển liên tục, bền bỉ.
Trâu là động vật nhai lại, ưa đầm nước, không chịu được nắng nóng. Trâu bò hay được nhắc đến chung với nhau, nhưng chúng là hai loài khác nhau. Ở Việt Nam trâu phổ biến hơn bò và có những đặc điểm phù hợp với môi trường tự nhiên hơn.
Con trâu của người Việt có nhiều loại nhưng chúng đều có những đặc điểm sinh học tương tự nhau. Trâu cày đen là loại trâu được ưa chuộng nhất với người Việt. Loại trâu trắng, hay trâu lấy sữa ít được nuôi hơn vì nhu cầu và tâm lí. Từ rất xa xưa, bằng những cứ liệu khảo cổ học đã chứng tỏ con trâu đã được người Việt thuần hóa rất sớm. Thủa sơ khai, trâu là động vật hoang dã, là đối tượng săn bắn của con người. Từ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp – trồng lúa nước, con trâu được người Việt thuần hóa thành vật nuôi để cung cấp sức kéo là chủ yếu. Kể từ khi được thuần hóa trâu không ngừng đóng góp giá trị cho đời sống- văn hóa người Việt.
Chương 2: CON TRÂU TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT
Nước ta nói riêng và Đông Nam Á nói chung có điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau nên nông nghiệp lúa nước đều phát triển từ sớm và con trâu cũng là vật nuôi ở nhiều nước trong khu vực. Ở nước ta, ngoài người Việt thì nhiều dân tộc ít người khác cũng rất xem trọng con trâu. Trên nền tảng sản xuất nông nghiệp lúa nước, người Việt đã tạo dựng cho mình đời sống vật chất ngày càng phát triển. Bên cạnh sự nỗ lực, sức sáng tạo và tinh thần hăng say lao động của con người thì con trâu đóng một vai trò hết sức quan trọng. Thực tế chương này là nói về văn hóa nhận thức về trâu của người Việt.
2.1 Con trâu trong sản xuất nông nghiệp 2.1.1 Chăn nuôi trâu
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính của sản xuất nông nghiệp. Người Việt tuy trồng trọt quan trọng hơn, chăn nuôi chỉ ở mức độ gia đình tự cung tự cấp nhưng trồng trọt và chăn nuôi có mối quan hệ gắn bó với nhau trong nông nghiệp.
Trồng trọt cung cấp thức ăn cho vật nuôi, vật nuôi cung cấp sức, phân bón…cho đồng ruộng. Quan trọng hơn chúng đều đáp ứng tốt cho nhu cầu của con người.
Người Việt từ thủa đầu chuyển sang nông nghiệp lúa nước thì việc thuần hóa động vật nuôi cũng diễn ra sớm. Người nông dân nuôi nhiều con vật khác nhau trong gia đình như lợn, gà, ngan vịt, chó, trâu bò… Hầu như bất kì nhà nông nào cũng có một vài con lợn, đàn gà và con chó giữ nhà. Những loài động vật nhỏ này được nuôi chủ yếu để cung cấp chất đạm cho bữa ăn thêm phong phú, và có một khoản tiền nho nhỏ lúc cần thiết. Trâu là vật nuôi phổ biến ở các vùng nông thôn, không chỉ người Việt mà nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta cũng xem trâu như một vật nuôi quan trọng.
Trước khi thuần hóa, trâu là động vật hoang, sống theo đàn. Sau khi nhận thấy những đặc tính phù hợp của trâu cho sản xuất thì trâu được thuần hóa thành vật nuôi.
So với những vật nuôi khác thì trâu là gia súc lớn nhất của người Việt. Trong xã hội cũ, trâu không được nuôi để lấy thịt, giá trị của trâu cũng khác hẳn với những loài vật khác. Trâu được con người xui sẹo (xông mũi) để dễ thuần hóa và huấn luyện. Trâu được nuôi theo hộ gia đình hoặc theo tập thể. Trong thời kì phong kiến, thời chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và trong các chính sách khuyến khích nông nghiệp luôn có chính sách phát triển vào bảo vệ trâu. Trâu được xem là tài sản chung của xã hội, nhiều hộ gia đình nghèo chung nhau nuôi một con trâu, cùng nhau chăm sóc trâu. Sau khi giành độc lập, Đảng và Chính Phủ thực hiện chính sách tổ chức đời sống sản xuất theo Hợp tác xã nông nghiệp. Trâu là của chung của hợp tác xã, việc chăn nuôi trâu sẽ được phân công cho các hội viên. Toàn bộ trâu không thuộc sở hữu cá nhân mà theo sự điều phối, quản lý của tổ chức.
Trâu khá phàm ăn, thức ăn của trâu chủ yếu là cỏ, rơm. Ngoài ra trâu còn ăn nhiều thức ăn khác như lá tre, thân chuối, cám, bộ phận của cây ngô hay các loại cây trồng khác như sắn, khoai, đậu,... Những thức ăn của trâu có nhiều trong tự nhiên và phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp. Thế nên, việc chăn nuôi trâu không khó khăn nhiều trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn. Nuôi trâu không cạnh tranh về nguồn thức ăn với các con vật khác và với con người. Nuôi trâu thường mất một công chăn trâu, cắt cỏ chăn trâu. Công việc chăn trâu được giao cho trẻ nhỏ hoặc người già trong gia đình. Hàng ngày, trâu được thả ra đồng gặm cỏ, những gia đình có nhiều trâu thì phải thả ra những nơi đất trống, bờ đê, sườn đồi cho gặm cỏ. Những nhà có ít trâu thì người chăn sẽ dắt trâu dọc những bờ ruộng, ven mương. Tuy nhiên, việc cho trâu gặm cỏ tự nhiên ngoài đồng không đủ cho trâu ăn no nên vẫn phải có những người cắt cỏ. Cỏ được cắt ở những bờ ruộng nhỏ, trong các ruộng trồng hoa màu... vừa làm sạch cỏ cho cây trồng vừa có cỏ cho trâu ăn no. Chăn nuôi trâu giúp nhà nông tận dụng triệt để những lao động nông nhàn. Sau mỗi mùa thu hoạch lúa, người nông dân thường tận dụng thân lúa phơi khô thành rơm, đắp thành đống lớn làm thức ăn dự trữ cho trâu những khi trời mưa hoặc thức ăn khan hiếm (xem hình PL4.3 phần Phụ lục).
Ở những miền nông thôn hầu như gia đình nào cũng có “cây rơm” là thức ăn cho trâu. Những đống rơm dự trữ này còn có tác dụng trải ấm cho trâu những ngày rét,
mưa rầm hoặc làm sạch chuồng trâu. Tương tự như vậy, ngô cũng là thức ăn dự trữ khá phổ biến, ngọn ngô, vỏ ngô phơi khô cho trâu ăn dần. Nhiều gia đình còn tận dụng thân chuối làm thức ăn cho trâu. Thân chuối được băm ra thành miếng nhỏ, trộn thêm chút cám gạo và ít muối vừa làm trâu no bụng, nhiều dinh dưỡng, vừa giúp trâu giai sức. Ngày nay, nhiều nơi còn trồng cỏ để nuôi trâu bò khi nguồn cỏ trong tự nhiên không đủ đáp ứng. Thức ăn và cách chăm sóc trâu đối với từng loại trâu như trâu cái sinh sản, trâu kéo cày, trâu nghé…là khác nhau. Trâu cái đẻ hoặc trâu kéo cày thường được người người nông dân chăm chút hơn, có thể bồi bổ thêm bằng tinh bột bên cạnh cỏ, rơm. Tuy nhiên ngày trước, đời sống kinh tế khó khăn thì việc phân chia chế độ chăm sóc cũng không rạch ròi. Nhà nông chỉ cố gắng đảm bảo trâu luôn được ăn no, béo khỏe.
Trâu Việt có đặc tính chịu nắng nóng kém, bởi da trâu đen, bóng, dễ hấp thụ nhiệt từ mặt trời. Tuyến mồ hôi của trâu hoạt động kém hơn bò, nên trâu rất thích tắm và thích những bong râm. Một ngày trâu có thể đầm tắm đến 4-5 giờ [Đỗ Kim Tuyên- Hoàng Kim Giao- Hoàng Thị Thiên Hương 2009: 10]. Người nuôi thường chú ý đến việc tắm mát cho trâu những ngày hè nóng bức. Trâu thích đầm bùn, vì bùn đắp lên trên mình trâu giúp trâu tránh nắng nên mới có câu “ Trâu lấm vấy càn”.
Trâu cũng thích nằm ngâm nước ngập tới cổ, thậm chí hụp đầu xuống nước rồi ngóc lên. Trâu có khả năng bơi khá tốt, có thể bơi qua sông sâu, ao, đầm sâu. Nhiều người đã lợi dụng đặc tính này để nhờ trâu chở qua sông hoặc kéo gỗ qua sông.
Người nông dân Việt biết làm chuồng để nhốt trâu. Hình thức chuồng trâu khá đa dạng, nhiều nơi chỉ là đóng cọc và quây xung quanh nhốt trâu vào, hoặc có nhiều nhà ít trâu có thể chỉ cột trâu ở gốc cây. Thế nhưng để tránh mưa nắng, gió rét cho trâu và tận dụng nguồn phân thì người Việt biết làm chuồng kiên cố hơn. Chuồng trâu nằm trong hệ thống chuồng trại của gia đình, sẽ được làm cách xa nhà ở và giếng nước. Chuồng khuất hướng gió vừa tránh gió rét cho trâu vừa tránh mùi hôi bay vào nhà gia chủ. Mỗi chuồng chỉ nhốt từ 1 đến hai con để tránh trâu húc nhau.
Những trâu đực lớn được nhốt riêng một chuồng, hay trâu đực và trâu cái nhốt riêng.
Ở những hộ gia đình nuôi ít trâu thì chỉ có 1 đến hai chuồng. Trong thời đại mới thì
chuồng trâu được chú trọng xây dựng trên nhiều tiêu chí hơn trước. Khác với một số dân tộc thiểu số ở nhà sàn như người Mường, Ê đê, Bana... ở nhà sàn thì họ tận dụng gầm sàn để nuôi nhốt trâu. Thậm chí ở vùng núi, một số tộc người thiểu số không làm chuồng mà chăn trâu theo hình thức chăn thả, trâu được đánh số thả vào rừng.
Việc làm chuồng trại nuôi nhốt trâu thay đổi theo tình hình kinh tế của người dân. Khi đời sống người nông dân còn khó khăn thì việc làm chuồng chỉ mang tính chất tạm bợ. Trong thời chiến tranh loạn lạc, thậm chí ở những vùng nông thôn còn không có chuồng trâu. Trâu được nhốt hoặc thả theo đàn nhưng họ vẫn có ý thức bảo vệ trâu để đảm bảo đời sống. Khi đất nước giải phóng việc chăn nuôi trâu được chú trọng hơn và trâu cũng được chăm sóc tốt hơn. Vật liệu, hệ thống chuồng trại cũng có nhiều thay đổi. Trước kia sử dụng những vật liệu có sẵn trong tự nhiên như cây gỗ, lợp mái bằng lá cây, rơm khô...chủ yếu có chỗ cho trâu tránh mưa nắng và gió rét. Khi kinh tế khá hơn, đời sống ổn định hơn thì chuồng trâu được làm bằng sắt, bê tông kiên cố. Trâu là loài vật chịu được gió rét kém nên những ngày đông người nông dân thường phải che chắn phía cửa chuồng. Việc nhìn nhận vào những thay đổi trong hệ thống chuồng nuôi cũng phần nào đánh giá được đời sống kinh tế của từng hộ dân cũng như sự thay đổi trong nhận thức của người dân.
Chăn nuôi trâu nước ta có từ rất lâu, số lượng trâu biến động theo từng giai đoạn. Thời kỳ chiến tranh đàn trâu bị suy giảm do bom đạn và chạy giặc. Sau giải phóng đàn trâu nước ta là 2.669.604 con. Đến năm 2003 đàn trâu cả nước đã tăng lên 2.834.000 con [Nguyễn Đức Thạc 2006: 16]. Trâu đặc biệt được nuôi nhiều ở Trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ hơn vì có nhiều chỗ chăn thả và ruộng nương hẹp, đường đi vào ruộng khó khăn nên rất cần sức kéo của trâu. Trâu là vật nuôi lớn và có vai trò quan trọng nên việc chăm sóc trâu là hết sức cần thiết. Đảm bảo trâu luôn ăn no, béo khỏe là một trong những việc quan trọng của nhà nông. Kẻ thù của trâu là ruồi, mòng, giận, ve, đỉa... những động vật sống kí sinh và hút máu của trâu. Người chăn nuôi thường tắm rửa kì cọ thường xuyên để trâu sạch sẽ và không còn giận, ve. Đối với ruồi thì người nông dân nghĩ ra cách làm những cái vỉ để đập ruồi cho trâu. Cái vỉ được đan bằng tre và có gắn cán, mỗi khi đi chăn trâu, người chăn thường mang