Chương 2. MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI
3. NGUYÊN TẮC NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI
4.2. Các phương pháp nghề Công tác xã hội (1)
Phương pháp công tác xã hội là cách thức mà Nhân viên xã hội tác động vào hệ thống đối tượng được giúp đỡ. Hệ thống đối tượng bao gồm các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng.
Cùng với sự phát triển của ngành công tác xã hội, các cách thức mà nhân viên xã hội tác động vào hệ thống đối tượng được giúp đỡ đã từng bước hình thành và phát triển. Hiện nay, có 3 phương pháp phổ biến được các nhân viên xã hội sử dụng khi làm việc với đối tượng, đó là phương pháp công tác xã hội cá nhân, phương pháp công tác xã hội nhóm và Tổ chức/phát triển/cộng đồng. Mỗi phương pháp của công tác xã hội có hệ thống lý thuyết và công cụ kỹ thuật riêng, là cơ sở phân biệt giữa các phương pháp, cũng như mỗi phương pháp có lịch sử phát triển và phương pháp tiếp cận đặc trưng. Trong khuôn khổ các kiến thức nhập môn công tác xã hội, chỉ đưa ra những vấn đề mang tính tổng quát nhất của mỗi phương pháp, còn các kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp của từng phương pháp sẽ được trình bày trong các môn học /học phần/ tiếp theo
4.2.1. Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp công tác xã hội mà nhân viên xã hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp để giúp cá thể con người giải quyết các vấn đề khó khăn trong việc thực hiện chức năng xã hội. Đó là một dịch vụ do nhân viên xã hội đưa đến cho các cá nhân và gia đình của họ thông qua mối quan hệ một - một. Với phương pháp này, nhân viên xã hội can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội của cá nhân đó.
Trong công tác xã hội cá nhân, đối tượng tác động của nhân viên xã hội là một cá nhân hay gia đình của họ; công cụ chủ yếu được sử dụng trong phương pháp này là mối tương tác trực tiếp giữa nhân viên xã hội và cá nhân người được giúp đỡ;
điểm mấu chốt được nhắm tới trong phương pháp này là những khó khăn thuộc về khía cạnh tâm, sinh lý và các yếu tố thuộc môi trường xã hội hoặc cả hai yếu tố trên tác động tới các khó khăn của đối tượng.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Quá trình can thiệp giúp đỡ của nhân viên xã hội bao gồm sự huy động các nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với việc phát huy nguồn lực bên trong của bản thân đối tượng thông qua việc sử dụng các kiến thức khoa học về hành vi con người và môi trường, các thuyết trong tâm lý học, các thuyết về gia đình... để hỗ trợ và tham vấn tâm lý; đồng thời huy động các nguồn lực xã hội, nguồn lực cộng đồng để giúp đối tượng giải quyết vấn đề đang gặp phải. Nhờ đó, giúp cá nhân và gia đình đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết khó khăn của chính mình.
Phương pháp công tác xã hội cá nhân là một phương pháp ra đời sớm nhất trong các phương pháp công tác xã hội (cuối những năm 1800). Hệ thống lý thuyết và kinh nghiệm thực hành công tác xã hội cá nhân được phát triển, hoàn thiện trải qua một thời gian khá dài. Quá trình can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân tuân theo một tiến trình gồm nhiều bước, từ việc tiếp cận đối tượng, thu thập thông tin, xác định vấn đề, lên kế hoạch can thiệp giúp đỡ, triển khai kế hoạch đến việc lượng giá và kết thúc.
Hai mục tiêu lớn của công tác xã hội cá nhân là giúp đỡ đối tượng có vấn đề giải quyết được vấn đề của họ và tăng cường sức mạnh cho đối tượng, làm cho họ tự lực và độc lập giải quyết vấn đề tuỳ theo năng lực của mỗi người thông qua sự hỗ trợ của nhân viên xã hội.
Trong công tác xã hội cá nhân, kỹ năng tạo lập mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và đối tượng, các kỹ năng lắng nghe, vấn đàm, tham vấn, thấu cảm ... là những công cụ kỹ thuật quan trọng. Nó góp phần đạt được những mục tiêu của sự giúp đỡ mà không tạo ra sự trông chờ, ỷ lại của người được giúp đỡ.
Công tác xã hội cá nhân có những hạn chế của nó. Nó không thể giúp được những đối tượng mà vấn đề của họ là nan giải. Lý do không phải là thiếu thốn các nguồn lực mà còn do những hạn chế của chính bản thân phương pháp công tác xã hội cá nhân. Trong trường hợp này, việc giải quyết vấn đề của đối tượng cần phải được kết hợp sử dụng các phương pháp khác của công tác xã hội.
4.2.2. Công tác xã hội nhóm
Nhóm xã hội là một phạm trù dùng để chỉ một tập hợp các cá thể người được thiết lập dựa trên lợi ích, mục đích hay các tiêu chí chung nào đó được xác định. Hay nói một cách khác, nhóm xã hội là một cộng đồng xã hội có từ hai người trở lên, giữa họ có một sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình tiến hành các
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
hoạt động chung. Sự ra đời và thời gian tồn tại của nhóm phụ thuộc vào nhu cầu, mục đích của các thành viên trong nhóm hoặc phụ thuộc vào ý chí của nhà quản lý.
Trong quá trình xã hội hoá, mỗi cá nhân luôn luôn tham gia và phụ thuộc vào nhiều nhóm xã hội khác nhau. Các cá nhân được xã hội hoá theo các chuẩn mực chung của nhóm, được đáp ứng các nhu cầu về vất chất, văn hoá và tinh thần; đồng thời các cá nhân chịu sự điều chỉnh của nhóm theo những quy định, quy ước chung của nhóm.
Nhóm có thể được hình thành tự nhiên từ trong cuộc sống, như: Nhóm các thành viên trong gia đình, nhóm bạn bè, nhóm đồng sở thích, nhóm cùng cảnh ngộ, nhóm giải trí, nhóm tự giúp ... hoặc có loại nhóm được hình thành có tổ chức (nhóm được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định thành lập) như: Tổ học tập, lớp học, tổ sản xuất, phòng ban trong cơ quan, nhóm đồng nghiệp, nhóm giáo dục đồng đẳng, nhóm giáo dục viên đường phố, câu lạc bộ .v.v. Dù là nhóm tự nhiên hay nhóm được thành lập, các hoạt động của nhóm đều có những ảnh hưởng quan trọng đến đời sống của mỗi cá nhân.
Từ vài hạn chế của phương pháp công tác xã hội cá nhân, phương pháp công tác xã hội nhóm đã hình thành và phát triển. Công tác xã hội nhóm là một quá trình nhân viên xã hội sử dụng tiến trình sinh hoạt nhóm nhằm giúp các cá nhân tương tác lẫn nhau; chia sẻ tâm tư, suy nghĩ, kinh nghiệm với nhau; tạo ra sự thay đổi về thái độ, hành vi; tăng cường khả năng giải quyết vấn đề và thoả mãn nhu cầu của các thành viên trong nhóm.
Trong công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội có thể sử dụng các nhóm có sẵn trong thực tế cuộc sống hoặc thiết lập một nhóm mới tuỳ theo mục đích của sự giúp đỡ. Thông thường, người ta có thể chia nhóm công tác xã hội theo các dạng nhóm sau đây: Nhóm giải trí, nhóm giáo dục, nhóm giải quyết vấn đề (hay còn gọi là nhóm trị liệu) hay nhóm tự giúp.v.v.
Phương pháp công tác xã hội nhóm được sử dụng khi vấn đề của cá nhân muốn được giải quyết có liên quan, phụ thuộc vào sự tương tác giữa cá nhân đó với các thành viên khác trong nhóm thông qua sinh hoạt nhóm.
Trong công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội đóng vai trò như người điều phối. Nghĩa là, hoạt động của nhân viên xã hội không nhằm vào hoạt động của từng người cụ thể mà tác động đến sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua vai trò điều phối các hoạt động của nhóm. Trong phương pháp này, công cụ chủ
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
yếu của nhân viên xã hội không còn là sự tương tác trực tiếp giữa nhân viên xã hội với từng con người cụ thể mà là sự tác động của nhân viên xã hội đến sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua tiến trình làm việc với cả nhóm. Với sự điều phối của nhân viên xã hội và sự tương tác của các thành viên trong nhóm là nhân tố giúp các thành viên trong nhóm thay đổi, tăng cường sự liên kết và phát huy tiềm năng của mỗi cá nhân và tiềm năng nhóm. Trong thực tế, tác động của nhóm nhỏ thông qua các hoạt động nhóm đối với cá nhân là rất mạnh mẽ. Cho nên, phương pháp công tác xã hội nhóm ngày càng được sử dụng rộng rãi khi vấn đề của cá nhân nan giải mà việc áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân ít hiệu quả.
Thực hành công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội sử dụng tiến trình công tác xã hội nhóm và các kỹ năng làm việc với nhóm. Nhân viên xã hội bắt đầu từ nhu cầu, từ mục đích của nhóm để tìm giải pháp đáp ứng các nhu cầu đó. Việc đầu tiên đối với nhân viên xã hội là thành lập nhóm, đáp ứng các yêu cầu: Cấu trúc nhóm;
thành phần của nhóm; chọn trưởng nhóm; kế hoạch nội dung sinh hoạt nhóm; vai trò của nhân viên xã hội, của trưởng nhóm và của nhóm viên.
Nhóm có cuộc sống riêng, có nhu cầu và mục đích riêng của mỗi nhóm. Khi làm việc với nhóm, nhân viên xã hội có hai vấn đề trọng tâm cần chú ý: Thực tại của nhóm và những thay đổi của nhóm. Do tính chất đặc trưng của công tác xã hội nhóm là các nhóm viên giúp đỡ lẫn nhau, nên nhân viên xã hội cần có những kỹ năng đặc biệt, đó là kỹ năng điều phối và quan sát. Trong những trường hợp cần thiết, nhân viên xã hội cần có các kỹ năng trong việc xử lý các mâu thuẫn, xung đột nhóm.
4.2.3. Tổ chức/Phát triển/cộng đồng
Cộng đồng xã hội là một phạm trù xã hội. Theo quan điểm Macxít, Cộng đồng xã hội là mối liên hệ qua lại giữa các thành viên, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của họ nhờ sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó. Nó bao gồm: Các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về quan điểm tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội và các quan niệm về mục tiêu và phương tiện hoạt động.
Mỗi cộng đồng xã hội luôn phản ánh trạng thái và các hình thức tồn tại và phát triển của các cá nhân. Trong đó, các thành viên trong cộng đồng thể hiện các mối quan hệ trong hệ thống các mối liên hệ xã hội và sự trao đổi qua lại trong các hoạt động của con người.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong đời sống xã hội, có những vấn đề xã hội không chỉ nảy sinh và tồn tại ở một người hay một nhóm người, mà bao trùm lên cả một cộng đồng. Nếu giải quyết từng trường hợp, từng gia đình hay một nhóm xã hội thì không đem lại hiệu quả.
Từ lý thuyết về hành vi và môi trường xã hội, từ kinh nghiệm thực tiễn rút ra từ các phương pháp công tác xã hội cá nhân và phương pháp công tác xã hội nhóm cho thấy: Các hành vi cá nhân, gia đình và nhóm có liên quan đến môi trường xã hội. Lý do làm nảy sinh các vấn đề khó khăn của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội không hoàn toàn từ phía đối tượng mà nhiều trường hợp bắt nguồn từ môi trường xã hội mà họ đang sinh sống, trong đó có những yếu tố về thể chế, thiết chế và chính sách. Vì thế, nếu nhân viên xã hội chỉ quan tâm cung cấp các dịch vụ giúp cá nhân, gia đình và nhóm mà không quan tâm đến việc cải tiến thể chế, thiết chế cộng đồng thì vấn đề của họ không được giải quyết triệt để.
Ví dụ: Khi giải quyết vấn đề ma tuý, nếu chỉ chăm lo công việc cai nghiện, phục hồi cho những người nghiện mà không quan tâm giải quyết những vấn đề môi trường xã hội liên quan đến ma tuý, như: Vấn đề sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, tổ chức sử dụng các chất ma tuý; nhận thức, thái độ của người dân trong cộng đồng .v.v. thì mục tiêu tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện ma tuý khó thực hiện thành công.
Từ lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp Tổ chức hay Phát triển cộng đồng hình thành và phát triển. Đến nay, Phát triển cộng đồng không còn là mối quan tâm riêng của ngành công tác xã hội mà còn là mối quan tâm chung của Nhà nước, của xã hội, của các nhà khoa học về phát triển bền vững ở mỗi quốc gia.
Thực chất của phương pháp này là xem xét, nghiên cứu, phát hiện những yếu tố cản trở sự phát triển và sự tác động của các yếu tố đến đời sống người dân, đến tiến trình phát triển; nhằm huy động nguồn lực cộng đồng, nguồn lực xã hội, có sự tham gia của chính quyền trong việc cải tiến các thiết chế tổ chức để cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và tăng cường khả năng tự lực của người dân trong cộng đồng.
Trong công tác Phát triển cộng đồng, vai trò của các nhân viên xã hội là tác viên phát triển. Nhân viên xã hội làm phát triển cộng đồng sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp tác động vào cộng đồng, làm thay đổi bộ mặt cộng đồng theo chiều hướng tích cực dựa trên một tiến trình khoa học, từ việc thức tỉnh cộng đồng, giúp cộng đồng tăng năng lực đến việc trao quyền và sự tự lực của cộng đồng. Tác
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
viên cộng đồng có nhiệm vụ xâm nhập vào cộng đồng, cùng người dân trong cộng đồng tìm hiểu, phân tích thực trạng, nguyên nhân những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, trong tiến trình phát triển; đồng thời cùng người dân phát hiện những tiềm năng, xác định nhu cầu cần giải quyết. Từ đó, khai thác các tiềm năng bên trong của cộng đồng kết hợp với việc tìm kiếm nguồn lực từ bên ngoài hỗ trợ người dân giải quyết vấn đề của cộng đồng, kể cả việc tác động làm thay đổi thể chế, thiết chế tổ chức chính quyền theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển của cộng đồng.
Cần nhấn mạnh rằng, trong công tác Phát triển cộng đồng, người dân đóng vai trò trung tâm - là người tham gia tích cực từ khâu đầu (phân tích đánh giá cộng đồng) đến khâu cuối (cộng đồng tự lực) của tiến trình làm phát triển cộng đồng, vì hơn ai hết người dân biết được đâu là vấn đề khó khăn, nhu cầu của mình và tiềm năng về nguồn lực sẵn có hay nguồn lực cần được huy động để giải quyết vấn đề. Sự dân chủ hoá và phân quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương các cấp đang là xu hướng toàn cầu trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và trong tiến trình phát triển xã hội.
Những xu hướng can thiệp hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước được chuyển dần sang cho các tổ chức xã hội, cộng đồng. Chẳng hạn: Việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em mồ côi từ các trung tâm, cơ sở của Nhà nước sẽ chuyển dần cho các tổ chức xã hội, cộng đồng, gia đình thay thế; thậm chí cho dòng tộc chăm sóc, bảo trợ.
Mỗi quốc gia khác nhau, quan điểm tiếp cận công tác xã hội có khác nhau. Ví dụ: Ở Mỹ, quan điểm tiếp cận công tác xã hội hướng vào cá nhân nhiều hơn; ở Canada quan điểm tiếp cận công tác xã hội hướng vào cộng đồng. Tuy nhiên, xu hướng chung của công tác xã hội hiện nay theo quan điểm tiếp cận công tác xã hội tổng quát, nghĩa là nhân viên xã hội làm việc ở cả 3 cấp độ: Cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội gắn với yếu tố nền văn hoá của mỗi nước.
Ngoài 3 phương pháp phổ biến nêu trên, công tác xã hội hiện đại còn một số phương pháp khác, như: Nghiên cứu khoa học, Quản trị ngành công tác xã hội... Tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội, của nền an sinh xã hội mỗi nước mà ngành công tác xã hội tiến hành các biện pháp tác động khác nhau vào xã hội vì sự an sinh của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Ngày nay, công tác xã hội tổng quát là chủ đề của công tác xã hội thế giới.
Ngày xưa, công tác xã hội dựa và những khó khăn, nhu cầu của đối tượng và tập trung vào cá nhân. Ngày nay, công tác xã hội nhấn mạnh đến tiềm năng, sức mạnh của cá nhân và hướng vào cộng đồng. Vì vậy, khi làm công tác xã hội, cần quan tâm đến hệ sinh thái (cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội, nền văn hoá) để phân tích vấn