BỐN THÀNH TỐ CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI (4, 7)

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn công tác xã hội (Trang 60 - 63)

Chương 3. HỆ THỐNG CƠ QUAN, TỔ CHỨC LÀM CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ NHÂN VIÊN XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP

1. BỐN THÀNH TỐ CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI (4, 7)

1.1. Đối tượng của Công tác xã hội

Hệ thống đối tượng của công tác xã hội (hay còn gọi là hệ thống thân chủ) là chủ thể được tác động tới của công tác xã hội. Đối tượng của công tác xã hội là con người và những vấn đề xã hội của con người.

Hệ thống đối tượng của công tác xã hội bao gồm: Các cá nhân, gia đình, nhóm hoặc cộng đồng người. Trong đó, công tác xã hội đặc biệt quan tâm đến các cá nhân, gia đình, cộng đồng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiệt thòi, yếu thế, như: Người hay gia đình nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật, người

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

cao tuổi cô đơn, người nghiện ma tuý, người nhiễm HIV/AIDS; nhóm phụ nữ nghèo, nhóm trẻ lang thang; cộng đồng nghèo, cộng đồng các dân tộc ít người.v.v.

Tuỳ theo vấn đề, nhu cầu cần giải quyết và các yếu tố tác động của môi trường đến vấn đề, quá trình giải quyết vấn đề của thân chủ, nhân viên xã hội sử dụng các phương pháp, kỹ năng làm việc khác nhau tác động đến hệ thống đối tượng. Có khi nhân viên xã hội chỉ làm việc với một cá nhân, đôi khi nhân viên xã hội làm việc với các thành viên trong gia đình. Có trường hợp, nhân viên xã hội làm việc với từng nhóm hoặc làm việc với cả một cộng đồng.

1.2. Vấn đề của đối tượng (1, 9)

Vấn đề xã hội của con người được hiểu là những tình huống nảy sinh trong cuộc sống, trong tiến trình phát triển xã hội mà chủ thể (con người, nhóm xã hội, cộng đồng) đang phải đối mặt, bản thân họ chưa có kế sách để tự giải quyết hoặc nếu có nhưng vì hạn chế nguồn lực cá nhân. Những vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng nếu không được giải quyết sẽ có tác động ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và sự an sinh của toàn xã hội.

Vấn đề của đối tượng thuộc các cấp độ khác nhau. Vấn đề có thể ở cấp độ cá nhân của một người, có thể là vấn đề của một gia đình, hay của một nhóm hoặc một cộng đồng. Vấn đề của mỗi cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng mang tính phổ biến trở thành vấn đề của xã hội.

Vấn đề xã hội là vấn đề của nhiều cá nhân mà những cá nhân này không tự giải quyết được, nó gây cản trở sự phát triển bình thường của các cá nhân và toàn xã hội.

Cuộc sống con người chịu tác động ảnh hưởng khác nhau của các quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội... dẫn đến khó tránh khỏi những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, như bệnh tật, già yếu, thất nghiệp, nghèo đói, nạn bạo hành, nghiện ngập ma tuý... Trong nhiều trường hợp, do thiếu thốn các nguồn lực cá nhân làm ảnh hưởng tới việc thực hiện chức năng xã hội của họ, đòi hỏi Nhà nước và xã hội phải có những phương sách, kế sách để giúp họ vượt qua khó khăn, phục hồi và tăng cường các chức năng xã hội của họ. Trên bình diện vĩ mô, Nhà nước thiết lập hệ thống các chính sách an sinh xã hội quốc gia và hình thành các thiết chế tổ chức Nhà nước để thực thi chính sách. Ở cấp trung mô, hình thành các cơ quan, tổ chức cung cấp các dịch vụ xã hội cho những cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng gặp khó khăn trong cuộc sống. Ở cấp vi mô, khơi dậy ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi thành viên trong

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

việc ứng phó và nỗ lực cá nhân trong việc tự lực giải quyết các vấn đề của cá nhân và tham gia cùng với Nhà nước và cộng đồng xã hội trong việc giải quyết các vấn đề của cá nhân và của xã hội.

1.3. Cơ quan xã hội

Cơ quan công tác xã hội (gọi tắt là cơ quan xã hội) là một thiết chế xã hội được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực công tác xã hội.

Cơ quan xã hội, mà người đại diện cho Cơ quan xã hội là những nhân viên xã hội có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ xã hội giúp các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề, phục hồi và tăng cường chức năng xã hội.

Cơ quan xã hội có thể là tổ chức của Chính phủ, phi Chính phủ hoặc cơ quan tư nhân. Mỗi tổ chức có những chức năng, vai trò khác nhau trong việc cung cấp các dịch vụ và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật

1.4. Tiến trình hoạt động

Tiến trình hoạt động của công tác xã hội hay tiến trình làm việc của nhân viên xã hội là tập hợp các hoạt động tương tác theo một trật tự logic về thời gian và không gian giữa nhân viên xã hội và đối tượng để tạo ra sự thay đổi tình huống của đối tượng hướng tới mục đích của sự giúp đỡ.

Tiến trình làm việc của nhân viên xã hội với đối tượng là một trong những công cụ kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn mà nhân viên xã hội thực hiện để giúp đối tượng giải quyết vấn đề khó khăn của họ.

Trong đời sống hàng ngày, khi gặp những vấn đề cần giải quyết, đôi khi con người không chú ý đến nguyên nhân, hoàn cảnh và khả năng cụ thể mà chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc đoán mò để giải quyết. Kết quả là tình hình không được cải thiện mà đôi khi còn làm cho vấn đề càng phức tạp thêm. Chẳng hạn khi ốm đau ta tự chữa bệnh theo kinh nghiệm, không có sự chẩn đoán của chuyên môn, rồi tiền mất tật mang, bệnh ngày càng trầm trọng hơn và có khi còn dẫn tới tử vong; hoặc khi lập một dự án phát triển xã hội, vì thiếu tìm hiểu, điều tra đánh giá nhu cầu nên khi triển khai gặp nhiều khó khăn và nhiều khi không thực hiện được mục tiêu đề ra...

Thực hiện sự giúp đỡ dựa trên một tiến trình làm việc khoa học được coi là một trong những yếu tố cơ bản của công tác xã hội. Tuy nhiên, đây chỉ là tiến trình làm việc có ý nghĩa khái quát chung trong hệ thống lý thuyết công tác xã hội làm

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd..77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

định hướng cho công tác xã hội thực hành. Còn trong thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp, khi nhân viên xã hội sử dụng các phương pháp khác nhau (phương pháp làm việc với cá nhân, nhóm và cộng đồng) phải sử dụng tiến trình làm việc một cách linh hoạt, năng động tuỳ theo từng hệ thống đối tượng và hoàn cảnh môi trường xã hội.

Thực chất của tiến trình công tác xã hội là các bước tiến hành quá trình làm việc của nhân viên xã hội trong việc can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội của con người tuân theo một trình tự từ nhận diện vấn đề, xây dựng kế hoạch can thiệp giải quyết vấn đề, triển khai thực hiện kế hoạch đến việc đánh giá (lượng giá) kết quả thực hiện. (3)

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn công tác xã hội (Trang 60 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(80 trang)