4.3 Đánh giá động thái sinh trưởng phát triển và năng suất của cây sâm
4.3.2. Động thái tăng trưởng đường kính thân của sâm khoai qua các mật độ trồng khác nhau
Thân là bộ phận quan trọng giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động sống của cây trồng nói chung và sâm khoai nói riêng. Bởi ở lá diễn ra các hoạt dộng sinh lý: trao đổi nước, vận chuyển các chất đồng hóa, giúp cây chống đổ,… Ảnh hưởng mạnh đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Thân cây thường làm chức năng dẫn truyền nước, muối khoáng và các chất hữu cơ đi nuôi cây trên cơ thể thực vật, thân cây có thể đảm nhiệm chức năng nâng đỡ cây và dự trữ chất dinh dưỡng
Do vậy việc theo dõi động thái đường kính thân có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với cây sâm khoai, kết quả được thể hiện dưới bảng:
Bảng 4.6. Động thái tăng trưởng đường kính thân của cây sâm khoai qua các thời vụ trồng khác nhau:
Công thức
Ngày bd mọc
Đường kính thân cây sau mọc ...(ngày)
20 40 60 80 100 120 140 160 CT1 19-Thg2 0,35 0,57 0,667 0,81796 1,023 1,388 1,432 1,652 CT2 19-Thg2 0,347 0,578 0,683 0,82089 1,134 1,367 1,349 1,673 CT3 19-Thg2 0,349 0,577 0,674 0,8175 1,043 1,359 1,332 1,592 CT4 19-Thg2 0,324 0,521 0,663 0,8113 1,027 1,363 1,317 1,611
Qua bảng ta thấy:
Đường kính thân của sâm khoai tăng dần từ lúc 2 lá mầm. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đường kính thân giữa các giai đoạn là không giống nhau.
Đường kính cây có sự chênh lệch ở 20 ngày sau khi mọc cao nhất ở công thức 3 là 0,349cm và thấp nhất ở công thức 4 là 0,324cm. Sang ngày 40 cây sau khi mọc, đường kính thân của CT4 lại nhỏ hơn so với tất cả các công thức còn lại là 0,521. Sang 60 ngày cây sau khi mọc, đường kính cao nhất ở công thức 2
ở sau 80 ngày khi cây mọc, cao nhất là công thức 2 là 0,82089 và thấp nhất ở công thức 4 là 0,8113. Cây tiếp tục phát triện mạnh sau 160 ngày thì ta thấy đường kính của CT2 là 1,673cm lớn nhất và CT3 nhỏ nhất là 1,592cm
Qua kết quả theo dõi ta thấy chiều cao cây có sự chênh lệch khác nhau không rõ rệt ở 4 công thức và không có sự sai khác, đường kính thân cây vẫn tăng dần qua các giai đoạn.
4.3.3. Động thái tăng trưởng số lá của cây sâm khoai qua các mật độ trồng khác nhau
Lá là bộ phận quan trọng giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động sống của cây trồng nói chung và cây sâm khoai nói riêng. Bởi ở lá diễn ra các hoạt dộng sinh lý: quang hợp, hô hấp, trao đổi nước, vận chuyển các chất đồng hóa… Ảnh hưởng mạnh đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Lá là thành phần khí sinh của cây giúp quang hợp, trao đổi khí và thoát hơi nước, là cơ quan dự trữ, sinh sản, bảo vệ.
0.35 0.347 0.349 0.324
0.57 0.578 0.577
0.521
0.667 0.683 0.674 0.663
0.81796 0.82089 0.8175 0.8113
1.023
1.134
1.043 1.027
1.3881.432 1.367 1.359 1.363
1.349 1.332 1.317
1.652 1.673
1.592 1.611
0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 1.8
80-90 80-80 80-70 80-60
đường kính
mật độ
Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ đến đường kính thân
20 40 60 80 100 120 140 160
Đặc biệt quan trọng lá là cơ qua ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của loại cây sâm khoai này. Ngoài ra bộ lá còn ảnh hưởng đến khả năng chống chịu và chất lượng của sản phẩm sau thu hoạch, bởi nó liên quan đến quá trình tích lũy chất khô, thoát hơi nước, quang hợp... Bộ lá phát triển cân đối, khỏe mạnh là tiền đề cho việc tăng hiệu suất quang hợp, tăng sức chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện bất lợi, từ đó cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao.
Do vậy việc theo dõi động thái ra lá có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sâm khoai, kết quả được thể hiện dưới bảng:
Bảng 4.7: động thái ra lá trên cây sâm khoai Mật
độ
Ngày bd mọc
Số lá trên cây sau mọc ...(ngày)
20 40 60 80 100 120 140 160 CT1 167 2,2 2,93 3,53 4,60 5,42 6,71 6,89 9,35 CT2 167 2,43 3,11 3,67 4,62 5,62 6,82 7,74 10,73 CT3 167 2,4 3,33 3,9 4,75 5,73 7,13 7,57 10,82 CT4 167 2,33 2,97 3,49 4,67 5,8 7,19 7,82 9,57
Qua bảng trên cho thấy: động thái tăng trưởng số lá của cây sâm dất có sự tăng lên qua các ngày sinh trưởng. Ở tuần đầu tiên số lá không có sự dao động đáng kể. Sang 40 NSM số lá không chênh lệch nhau quá lớn. Tương tự, ở 60 NSM số lá vẫn đạt cao nhất ở công thức 3 là 3,9 lá và thấp nhất vẫn duy trì ở công thức 4 là 3,49 lá. Sang 80 NSM thì số lá cao nhất vẫn ở công thức 3 và giảm dần ở công thức 4, công thức 2 và công thức 1. Đến 100 NSM số lá có sự biến động ở công thức 4, có số lá lớn nhất là 7,19 lá/ cây và nhỏ nhất vẫn là công thức số 1. Ở 160 NSM thì các công thức có kích thước biến động vị trí khác nhau nhưng chênh lệch không quá lớn.
Kết quả xử lý thống kê cho thấy, số lá giữa các công thức mật độ khác nhau không có ý nghĩa.