CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT XÂY DỰNG WEBSITE SHOP BÁN ÁO QUẦN
1.4 Phân tích thiết kế hướng đối tượng
1.4.1 Tổng quát về phân tích thiết kế hướng đối tượng 1.4.1.1 Phân tích hướng đối tượng
Phân tích định hướng đối tượng (OOA) [11] là quá trình thiết lập các đặc tính kỹ thuật cho phần mềm và phát triển các yêu cầu phần mềm tuân theo mô hình đối tượng của hệ thống phần mềm tương tác, bao gồm các đối tượng tương tác.
Trong phân tích hướng đối tượng (OOA), các nhiệm vụ chính bao gồm:
+ Xác nhận đối tượng
+ Tổ chức các đối tượng bằng cách vẽ minh họa sơ đồ của các mô hình đối tượng.
+ Xác định các tính chất, nội dung của đối tượng.
+ Xác định các hành động mà đối tượng thực hiện.
+ Giải thích sự tương tác của các đối tượng.
1.4.1.2 Thiết kế hướng đối tượng
Thiết kế hướng đối tượng (OOD) [12] là quá trình đưa một mô hình khái niệm được tạo ra trong quá trình phân tích hướng đối tượng vào hoạt động. OOD phát triển một mô hình cho miền giải pháp bằng cách ánh xạ các nguyên tắc của mô hình phân tích trung lập về công nghệ vào việc triển khai lớp, xác định các ràng buộc và thiết kế giao diện, tức là mô tả cách hệ thống được xây dựng trên công nghệ cụ thể.
Các chi tiết triển khai điển hình bao gồm:
+ Sửa đổi dữ liệu lớp (nếu cần).
+ Thực hiện các phương pháp như thuật toán và cấu trúc dữ liệu nội bộ.
+ Thực hiện ràng buộc.
+ Thực hiện các hiệp hội.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Để xác định mô hình logic và vật lý cũng như mô hình tĩnh và động của hệ thống bằng thiết kế, thiết kế hướng đối tượng sử dụng sự phân rã biểu tượng và hướng đối tượng.
1.4.1.3 Lập trình hướng đối tượng
Lập trình hướng đối tượng (OOP) [13] là một mô hình lập trình dựa trên các đối tượng (có cả phương thức và dữ liệu) nhằm tận dụng các lợi thế của module hóa và tái sử dụng. Tương tác với các đối tượng dẫn đến việc tạo ra các chương trình và ứng dụng máy tính, chúng thường là các thể hiện của các lớp.
Các đặc điểm chính của lập trình hướng đối tượng bao gồm:
+ Thiết kế chương trình với phương pháp tiếp cận từ dưới lên trên.
+ Các chương trình được tổ chức thành các lớp và tập trung vào các đối tượng.
+ Lấy dữ liệu làm trung tâm, với các phương thức để thao tác dữ liệu của đối tượng.
+ Sử dụng các chức năng để liên kết các đối tượng.
+ Thiết kế tái sử dụng bằng cách thêm các tính năng vào các lớp có sẵn để tạo các lớp mới.
1.4.2 Khái niệm và các mô hình UML
UML là viết tắt của Unified Modeling Language. Nó là một ngôn ngữ mô hình hóa phát triển chung dùng để phân tích, thiết kế và triển khai các hệ thống phần mềm.
Sơ đồ cấu trúc - Structural Diagrams
- Khung tĩnh hoặc cấu trúc của một hệ thống được mô tả trong các sơ đồ cấu trúc. Nó thường được sử dụng trong tài liệu kiến trúc phần mềm. Nó gồm các sơ đồ lớp, sơ đồ cấu trúc tổng hợp, sơ đồ thành phần, sơ đồ triển khai, sơ đồ đối tượng và sơ đồ gói.
+ Sơ đồ lớp: là một trong những sơ đồ được sử dụng rộng rãi nhất. Nó là xương sống của tất cả các hệ thống phần mềm hướng đối tượng. Nó mô tả cấu trúc tĩnh của hệ thống. Nó hiển thị lớp, thuộc tính và phương thức của hệ thống. Nó rất hữu ích trong việc nhận ra mối quan hệ giữa các đối tượng cũng như các lớp khác nhau.
+ Sơ đồ cấu trúc hỗn hợp: hiển thị các bộ phận trong lớp. Nó hiển thị mối quan hệ giữa các phần và cấu hình của chúng để xác định hành vi của lớp. Nó sử dụng đầy đủ các cổng, bộ phận và đầu nối để mô tả cấu trúc bên trong của bộ phân loại có cấu
Trường Đại học Kinh tế Huế
trúc. Nó tương tự như sơ đồ lớp, chỉ là thực tế nó thể hiện các phần riêng lẻ một cách chi tiết khi so sánh với sơ đồ lớp.
+ Sơ đồ thành phần: mô tả cách tổ chức các thành phần vật lý của hệ thống. Nó được sử dụng để mô hình hóa các chi tiết thực thi.Vì nó mô tả các liên kết cấu trúc giữa các thành phần của một hệ thống phần mềm, nó đánh giá xem các yêu cầu chức năng cần thiết đã được tính đến khi phát triển theo kế hoạch hay chưa.
+ Sơ đồ triển khai: trình bày phần mềm của hệ thống và phần cứng của nó bằng cách cho biết các thành phần vật lý hiện có là gì và những thành phần phần mềm nào đang chạy trên chúng. Nó tạo ra thông tin về phần mềm hệ thống. Nó được kết hợp bất cứ khi nào phần mềm được sử dụng, phân phối hoặc triển khai trên nhiều máy có cấu hình khác nhau.
+ Sơ đồ đối tượng: mô tả cấu trúc tĩnh của một hệ thống tại một thời điểm cụ thể. Nó có thể được sử dụng để xác minh độ chính xác của biểu đồ lớp. Nó đồng thời mô tả các trường hợp riêng biệt của các lớp và tương tác của chúng.
Sơ đồ hành vi – Behavioral diagrams
- Sơ đồ hành vi [14] mô tả sự tương tác trong hệ thống, đại diện cho sự tương tác giữa các sơ đồ cấu trúc. Mô hình hành vi cho thấy bản chất năng động của hệ thống, gồm : sơ đồ hoạt động, sơ đồ trạng thái, sơ đồ ca sử dụng
+ Sơ đồ trạng thái máy: là sơ đồ mô tả hành vi của hệ thống thông qua việc sử dụng các chuyển đổi trạng thái hữu hạn còn được gọi là biểu đồ trạng thái. Nó mô hình hóa hành vi năng động của một lớp để phản ứng với các kích thích bên ngoài.
+ Sơ đồ hoạt động: mô hình hóa luồng kiểm soát từ hoạt động này sang hoạt động khác. Với sự trợ giúp của biểu đồ hoạt động, chúng ta có thể lập mô hình các hoạt động tuần tự và đồng thời. Nó mô tả trực quan quy trình làm việc cũng như nguyên nhân dẫn đến sự kiện xảy ra.
+ Sơ đồ ca sử dụng: Nó nắm bắt yêu cầu chức năng của một hệ thống và liên kết của nó với các tác nhân, đóng gói yêu cầu chức năng của hệ thống sử dụng các tác nhân và các ca sử dụng. Nó mô tả quan điểm ca sử dụng của hệ thống.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Sơ đồ tương tác- Interaction Diagrams
- Sơ đồ tương tác [15] là một lớp con của sơ đồ hành vi nhấn mạnh đến các tương tác đối tượng và cũng mô tả luồng giữa nhiều thành phần của các ca sử dụng của hệ thống. Nó thể hiện cách tương tác và dữ liệu các đối tượng. Nó bao gồm các sơ đồ giao tiếp, tổng quan về tương tác, trình tự và thời gian.
+ Sơ đồ giao tiếp: Nó cho thấy sự trao đổi của các thông điệp trình tự giữa các đối tượng. Nó tập trung vào các đối tượng và mối quan hệ của chúng. Nó mô tả hành vi tĩnh và động của một hệ thống.
+ Sơ đồ tổng quan về tương tác: Là một hỗn hợp của hoạt động và sơ đồ trình tự mô tả một chuỗi các hành động để đơn giản hóa các tương tác phức tạp thành các tương tác đơn giản.
+ Sơ đồ trình tự: Nó cho thấy sự tương tác giữa các đối tượng về mặt thông điệp được trao đổi theo thời gian. Nó mô tả thứ tự và cách thức các chức năng của đối tượng trong một hệ thống.
+ Sơ đồ thời gian: Là một loại biểu đồ trình tự đặc biệt được sử dụng để mô tả hành vi của đối tượng trong một khoảng thời gian cụ thể. Nó điều chỉnh sự thay đổi trong trạng thái và hành vi của đối tượng bằng cách hiển thị các ràng buộc về thời gian và thời lượng.
Trường Đại học Kinh tế Huế