TÌNH HÌNH Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Một phần của tài liệu Điều tra phân lập và nuôi thử nghiệm khả năng xử lý nước thải của ngành tảo lam ở kênh nhiêu lộc thị nghè tp hcm (Trang 27 - 30)

KHU VUC THANH PHO HO CHI MINH

B. TÌNH HÌNH Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

I. LUU LUGNG NƯỚC THÁI:

Thành phố Hổ Chí Minh có lưu lượng nước thải là 450.000m /ngày.

Riêng lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè là 92.000m/ngày, trong đó:

a_ Lượng nước thải sinh hoạt và thương mại khoảng 85.600m/ngày chiếm 92% tổng lưu lượng

a Lượng nước thải từ các nhà máy lớn là 3.400m”/ngày, chiếm 3.6% tổng lưu lượng.

4a Lượng nước thải của II] bệnh viện trực thuộc thành phố và 79 trung

tâm y tế thuộc cấp quận và phường khoảng 4.000mỶ/ngày chiếm 4.3%

tổng lưu lượng.

II. CÁC NGUỒN Ô NHIỄM CHÍNH:

Ở Thành phố Hồ Chí Minh tình hình ô nhiễm môi trường nước đang là

vấn để nghiêm trọng cần phải giải quyết. Kênh rạch nội thành (đặc biệt là kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè) ô nhiễm rất nghiêm trọng do nguyên nhân chính

là ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt - dịch vụ và ô nhiễm bởi nước thải công

nghiệp. Giá trị BOD từ 50 - 200mg/l (tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường - TCVN - 1942 - 1945 chi cho phép BOD < 4mg/1 đối với nguồn nước phục vụ

sinh hoạt) và DO từ 0.1 - 2 mg/1. Do nhận phần lớn nước thải sinh hoạt thành phố, nồng độ các chất dinh đưỡng ở kênh rạch nội thành rất cao tạo ra hiện tượng phú dưỡng hóa và tổn động những chất cặn bã độc hại gây nhiều hậu

quả nghiêm trọng cho sức khoẻ và nhiều lĩnh vực khác của con người.

Theo * Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường - Phòng Quản lý Môi trường ". Kết quả quan trắc kênh rạch nội thành Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2002, hầu hết các kênh rạch điều bị nhiễm bẩn hữu cơ qua các trị

Seen eee

SVTH: NGUYEN THI HA NGUYEN TRANG 21 _

LUẬ N VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: T.S NGUYEN VAN TUYEN

số oxi hoà tan DO=0, giá tri BOD; (nhu cầu oxi sinh hoá) dao động 207mgíl - 275mg tăng so với cùng kì năm trước là 1.02 - 1.31 lần. COD dao động 292

- 504 mg/l gidm so với năm trước 2.05 - 3.14 lần có nơi lên đến 826mg/1. Ô nhiễm ví sinh tại kênh rạch trong thành phố rất cao. Hàm lượng Coliform vượt tiêu chuẩn cho phép TCCP = 10.000/MPN/100ml đến 1 1.000 lần.

Như vậy chất lượng nước kênh rạch nội thành bị ô nhiễm hữu cơ, hoá

học và vi sinh vật đáng kể.

1. Ô nhiễm nước thải sinh hoạt và dịch vụ:

Thành phố Hồ Chí Minh với số dân 5 triệu người( 1999) đã tạo ra lượng

nước thải sinh hoạt dịch vụ rất lớn (550.000m)”) từ các khu vực đân cư, trường

học, khách sạn, nhà hàng ...Tất cả các loại nước thải đều chưa qua xử lý.

Cùng với sự xuống cấp của hệ thống thoát nước thải và các hầm tự hoại được xây dựng không đúng theo quy cách kỹ thuật đã làm gia tăng mức

độ ô nhiễm.

Tình trạng vệ sinh môi trường, vệ sinh đô thị cùng với ý thức bảo vệ môi trường của người đân ở một số bộ phận dân cư quá kém làm gia tăng mức độ và tính chất ô nhiễm ngày càng nặng nề hơn.

2. Ô nhiễm do nước thải công nghiệp:

Xu thế đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá là xu thế tất yếu để xây dựng nền kinh tế phát triển. Trước xu thế đó hàng loạt các nhà máy xí nghiệp, các khu công nghiệp lớn nhỏ ngày càng nhiều, đa dạng dẫn đến sự đa dạng các loại nguyên liệu sản xuất, sản phẩm sản xuất và phế thải công nghiệp. Sự đa dạng đó quyết định chất lượng và lưu lượng nước thải công nghiệp trong hệ thống kênh rạch nội thành.

Thành phố Hồ Chí Minh và khu công nghiệp Biên Hoà là trung tâm

công nghiệp lớn nhất Việt Nam với hơn 600 xí nghiệp trực thuộc trung ương, địa phương và hơn 3.000 cơ sở sản xuất lớn nhỏ khác nhau. Lượng nước thải công nghiệp chiếm trung bình khoảng gần 50% tổng lượng nước thải (từ 650.000 - 1.000.000m/ngày). Tổng lượng chất bẩn khoảng 450.000kg BOD/

ngày.

Nước thải mỗi ngành nông nghiệp sẽ có tính chất đặc trưng về nông độ bẩn và tất cả các chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm. Nhìn chung các chỉ tiêu đánh giá

SVTH: NGUYÊN THỊ HẠ NGUYÊN TRANG 22

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: T.S NGUYÊN VĂN TUYÊN ô nhiễm điều vượt nhiều lẳẩn so với quy định. Đáng chú ý là ở một số ngành

công nghiệp như:

Nước thải của công nghiệp đường, cồn, rượu có đặc trưng là độ màu cao(50.000 - 70.000 đơn vị màu Co - PỤ, PH thấp (PH =6) và néng độ bẩn cao (COD =100 -150 mg/l) mdi khó chịu. Nước thải này mang tính hữu cơ và chỉ tiêu COD lên tới 2.000mg/1l khả năng lây nhiễm bệnh tật, gây mùi hôi thối cho khu đô thị.

Nước thải ở các nhà máy giấy: có hàm lượng lignin cao (20.000 - 30.000mg/1) khó phân hủy và có độ màu cao do lignin gay ra (20.000 đơn vị mau Co - Pt) ham lượng COD khoảng 20.000 - 25.000mg/1). Nước thải mang tính hữu cơ, gây độ màu và 6 nhiễm mạnh.

Nước thải ở các nhà máy giấy Viễn Đông có BOD;=1490.2mg/1, nhà má y thủy sản có BOD:=1960mg/1, COD =3919mg.

Nước thải ở các nhà máy hoá chất có hàm lượng kim loại nặng Pb, Cd (cadnium) và các hoá chất độc hại khác cao quá mức cho phép như nhà máy bột ngọt Thiên Hương Hg=3.65 - 6.8mg/1 (ngưỡng cho phép là 0,05 mg/)).

Các nhà máy sơ chế mủ và chế biến cao su: nước thải có nổng độ COD

cao (15.000 -18.000 mg/1) lưu lượng nước xả lớn và thay đổi nhiều gây mùi

thối rất khó chịu cho môi trường xung quanh.

Hầu hết các loại nước thải công nghiệp cũng như sinh hoạt đều thải ra môi trường không qua quá trình xử lý nào. Điều này làm cho mức độ ô nhiễm trên hệ thống kênh rạch nội thành càng trở nên trầm trọng hơn và gây nhiều thử thách lớn trong việc xử lý nước thải ảnh, hưởng xấu đến toàn bộ khu hệ sinh thái xung quanh đến sức khỏe con người.

Mặc khác, kênh rạch thành phố Hồ Chí Minh khu nội thành còn chịu

ảnh hưởng của chế độ bán nhật triểu nên chất bẩn không được đẩy xa xuống hạ lưu. Khả năng pha loãng và tự làm sạch của nguồn nước bị hạn chế, độ dốc thủy vực của hệ thống kênh rạch nhỏ, lòng kênh cạn và bị thu hẹp dần do cặn lắng và do tình trạng xả rác bừa bãi một cách thiếu ý thức của người dân nên thực trang ô nhiễm càng là mối đe dọa khủng khiếp cho con người trong mọi lĩnh vực.

Nhìn chung, ô nhiễm môi trường (đặc biệt là môi trường nước) là vấn để nóng bỏng, mang tính chất cấp bách hiện nay. Song, vấn để xử lý nước thải trên kênh rạch thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm nay vẫn còn đang đương đầu với nhiều thử thách lớn. Xử lý nước thải thành phố có hiệu quả

SVTH: NGUYEN THI HA NGUYEN TRANG 23

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: T.S NGUYÊN VĂN TUYÊN một cách đơn giản và lâu dài, đảm bảo nguồn nước sạch ở thủy vực thành phố Hồ Chí Minh là mối quan tâm và tranh luận về biện pháp xử lý của các nhà sinh học trong và ngoài nước vì sức khỏe cộng đồng và tiến bộ xã hội.

Một phần của tài liệu Điều tra phân lập và nuôi thử nghiệm khả năng xử lý nước thải của ngành tảo lam ở kênh nhiêu lộc thị nghè tp hcm (Trang 27 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(114 trang)